Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HÓA VIỆT NAM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HÓA VIỆT NAM. Hiển thị tất cả bài đăng

5 thg 4, 2009

LUẬN LÝ CỦA LUẬT SƯ

LS. PHAN TRUNG HOÀI

Suốt cả buổi chiều tối ngày thứ Năm (26.3.2009), tôi liên tục nhận được những cú điện thoại gọi vào từ Mũi Né (Phan Thiết). Họ là những người nông dân miệt biển đầy nắng gió của dải đất miền Trung vừa từ Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Thuận trở về với đời thường sau quyết định trả tự do của Hội đồng xét xử Toà án Nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Trong giọng nói của họ, và cả những người vợ từng khóc hết nước mắt khi chồng bị bắt, vẫn còn thảng thốt, vì dường như họ vẫn chưa tin được đó là sự thật. Những ngày tháng trong tù cho họ thấy một thế giới khác và lúc này, họ hiểu hơn ai hết ranh giới của tù tội và giá trị của tự do.

Khi phiên toà đã diễn ra được hơn ba ngày, ngay cả khi đã trình bày quan điểm bào chữa trước toà, đêm về tôi vẫn thao thức, không sao ngủ được. Nhận trách nhiệm bào chữa cho 4 người nông dân bị quy buộc tội "lừa đảo", tôi mang theo cả gánh nặng trách nhiệm trước những người vợ và con cái họ Suốt những ngày diễn ra phiên toà, trong mỗi bữa trưa và tối về tôi không nuốt nổi hạt cơm khi nhìn thấy những khuôn mặt buồn bã, những lo lắng khôn nguôi vì người thân của họ đang ở trong tình trạng suy sụp vì sức khoẻ.

Có những khi, tôi không đủ tự tin để nói lại với thân nhân gia đình họ, bởi đằng sau những tiếng vỗ tay của người dân khi nghe luật sư tranh tụng tại phiên toà không đủ át đi một sự thật các bị cáo đang đối diện với bản án tù giam theo đề nghị của công tố viên. Còn có một sự lo lắng không nói lên thành lời, chính là tình trạng "thỉnh thị án", "án bỏ túi" mà dư luận râm ran bấy lâu nay. Hơn hai mươi năm va đập trong các vụ án hình sự, tôi thấu hiểu thứ vũ khí duy nhất làm nên sức mạnh của một luật sư đó chính là luận lý chưa chắc đã được hiển hiện nhiều trong thực tế.

Bây giờ ngẫm nghĩ lại, thấy đôi khi mình cũng cố chấp, hay bi kịch hoá đời sống tố tụng. Những người cầm cán cân công lý đã có một quyết định dũng cảm khi "xử nghiêm với quan, khoan hồng với dân", bởi suy cho cùng, cả một thiết chế nhà nước trong một phạm vi địa phương là chính quyền tỉnh Bình Thuận không thể là "người bị lừa" được!

Lý lẽ chính của tôi khi bênh vực cho các bị cáo trong vụ án là ở chỗ, khi người dân có sai phạm trong lấn chiếm đất hoang, bị xử lý thì người thực thi các quyết định liên quan đến việc thu hồi đất phải là chính quyền địa phương. Khi giải quyết việc đền bù thiệt hại do việc thu hồi đất phục vụ cho các dự án kinh doanh du lịch, Nhà nước có cả một hệ thống và các thiết chế xét duyệt, thẩm định, kiểm tra từ cán bộ địa chính, hội đồng xét duyệt cấp phường, cho đến hội đồng đền bù và rộng ra là các cơ quan tham mưu như Sở Tài chính, Sở Tài nguyên Môi trường, hội đồng thẩm định cấp tỉnh...

Huống hồ, khi quyết định giải quyết đền bù không thoả đáng, người dân còn đi khiếu nại và nhận được quyết định giải quyết khiếu nại thì làm sao quy kết họ cố tình lừa đảo Nhà nước? Nói cách khác, không thể biến cái lỗi của chính quyền trong việc không thực thi quyết định xử lý vi phạm hành chính và không kiểm tra, xét duyệt kỹ lưỡng hồ sơ đền bù của từng hộ dân, rồi quy buộc người dân lừa đảo mình được...

Ông Trần Văn Á - một trong bốn người nông dân mà tôi nhận trách nhiệm bào chữa - đã nói với tôi tại phiên toà: "Nếu tôi bị tiếp tục giam thêm một ngày nữa thì sẽ chết mất ". Không biết khi được về với tự do, họ có hiểu sự khoan hồng mà pháp luật dành cho họ có thể bắt đầu chính từ sự lắng nghe luận lý của luật sư? Dù sao, tôi vẫn tin điều ấy và những phán quyết như vậy cũng an ủi cho chúng tôi trên những chặng đường tố tụng còn nhiều khó khăn trước mắt....

SOURCE: BÁO LAO ĐỘNG CUỐI TUẦN

Trích dẫn từ:

http://www.laodong.com.vn/Home/Luan-ly-cua-luat-su/20094/132937.laodong

22 thg 3, 2009

LỆNH CHUẨN VĂN HÓA

NHÀ SỬ HỌC. DƯƠNG TRUNG QUỐC

Mỗi con người ít nhiều mang trong mình một giá trị ảo bởi đều sống trong không gian và thời gian mà khái niệm của chuẩn mực đang xáo trộn để tiếp cận chân lý. Để tiến tới một chuẩn mực hoàn hảo thì hãy chấp nhận thay đổi từng bước.

Lệch chuẩn - hệ quả khó tránh khi chuyển đổi cơ chế

Xã hội nào cũng có hệ thống giá trị riêng. Nhìn lại Việt Nam hơn một thế kỷ qua, ai cũng thấy sự thay đổi ghê gớm đến thế nào. Một đất nước có truyền thống dân tộc dựa trên chế độ tiểu nông, lại nằm cạnh quốc gia sở hữu nền văn hóa lớn như Trung Hoa, những ứng xử đảm bảo cho một dân tộc được tồn tại và không rơi vào số phận như nhiều tộc người khác trên dòng Dương Tử đã tạo nên tính cách người Việt truyền thống. Bên cạnh sự mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam thể hiện qua nhiều cuộc chống ngoại xâm, người Việt cũng bộc lộ những hạn chế khi có điều kiện hội nhập với nền văn minh thế giới.

Trong hơn 30 năm (chống Pháp và chống Mỹ), nhiều tư tưởng tiến bộ đã phát huy sức mạnh của nó như đoàn kết dân tộc, phát hiện nhiều gương mặt tiên phong và mang tới một chỗ dựa kinh tế vững chắc. Nhưng khi bắt tay vào xây dựng chế độ mới, nó đã bộc lộ sự bất cập. Minh chứng rõ nhất là hệ thống xã hội coi trọng tầng lớp bần cố nông, hạ thấp một số tầng lớp khác trong đó có tầng lớp tri thức, tư sản nên đã hạn chế sự phát triển. Hay một trong những yếu tố được xã hội coi trọng là trí tuệ, mà đại diện cho trí tuệ là bằng cấp, học hàm, học vị. Nhưng vì đặt tiêu chuẩn bằng cấp ở mức tuyệt đối, xã hội đã nảy sinh việc mua quan bán tước, trở nên khá phổ biến.

Hệ thống giá trị có phần bị đảo lộn, không tạo nên chuẩn mực lâu dài mà chỉ mang tính nhất thời, nguyên căn bởi nó không có cội rễ truyền thống. Có một số giá trị giả. Sự thiếu chuẩn mực đã dẫn tới sự tuỳ tiện trong vận dụng. Chuẩn mực không có nền tảng trở thành giá trị ảo, tạo nên thứ đạo đức giả. Có những điều được coi là tiến bộ xã hội, nhưng nó không ăn nhập với chuẩn mực (mà thực tế sự chuẩn mực này cũng chưa rõ ràng) nên vô tình trở thành lạc lõng. Sự lệch chuẩn không chứng tỏ xã hội đang xấu đi, mà nó là hệ quả của sự chuyển đổi xã hội. Khi sự chuyển đổi liên tục diễn ra, hệ thống chuẩn mực tự thân cũng thay đổi.

Hãy công bằng hơn khi xét đoán chuẩn mực

Nhìn trong thời kỳ chuyển biến đó, sự lệch chuẩn là điều khó tránh khỏi. Chỉ khi xã hội hình thành nên nền kinh tế ổn định và phát triển, sự vận hành mới khiến những giá trị ảo mất dần. Cộng với những giá trị dân tộc, chuẩn mực sẽ dần thẳng đường tiến.

7 thg 3, 2008

LUẬT TỤC Ê ĐÊ: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA PHÁP LÝ

THS. VŨ THỊ BÍCH HƯỜNG  - Giảng viên ĐH Luật TP.HCM

Trình độ văn hóa nói chung và văn hóa pháp lý nói riêng không chỉ phản ánh bản sắc văn hóa mà còn phản ánh khả năng nhận thức và trình độ phát triển của một dân tộc. Ở nước ta hiện nay, bên cạnh hệ thống pháp luật thực định đang ngày càng được hoàn thiện vẫn còn tồn tại luật tục của các buôn làng người thiểu số, mà giá trị hiện thực của nó trong việc đảm bảo sự ổn định các quan hệ xã hội trong một cộng đồng người là điều không thể phủ nhận. Nếu hệ thống pháp luật thực định phản ánh trình độ văn hóa pháp lý của một cộng đồng người sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia thống nhất, thì luật tục lại phản ánh văn hóa pháp lý của một dân tộc – một bộ phận hợp thành khối dân cư thống nhất ấy. Trong bài viết này, chúng tôi nêu một số suy nghĩ về luật tục Ê Đê nhìn từ góc độ văn hóa pháp lý.

Ê Đê là cộng đồng người thống nhất về ý thức dân tộc, ngôn ngữ và văn hóa, là một dân tộc thiểu số bản địa ở Đaklak có trình độ phát triển và nền văn hóa tiêu biểu cho Đakalk. Trong các bản trường ca, nổi bật nhất là trường ca Đam San, cũng như trong đời sống hàng ngày, người Ê Đê đã khắc họa nên những trang sử hào hùng của dân tộc mình trong việc đánh giặc, đuổi cướp giữ buôn làng, giữ bến nước của ông bà, cha mẹ. Từ lâu, người Ê Đê đã sống quần cư trong những ngôi nhà dài. Mỗi nhà dài gồm nhiều gia đình, nhiều hộ, cùng là anh chị em ruột một dòng họ với nhau theo chế độ mẫu hệ. Hôn nhân cư trú bên vợ, con cái sinh ra mang họ mẹ. Đứng đầu đại gia đình là Khoa sang, đó là người đàn bà cao tuổi và có uy tín nhất, đứng ra trông nom tài sản, hướng dẫn sản xuất, điều hòa quan hệ giữa các thành viên, thay mặt đại gia đình quan hệ với xã hội. Một dòng họ nhỏ có thể cư trú trong một ngôi nhà dài. Một dòng họ lớn gồm nhiều nhà dài. Nhiều dòng họ làm thành một Buôn – cộng đồng tiêu biểu cho toàn xã hội.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã hội Ê Đê vẫn đang ở vào giai đoạn tan rã của công xã nguyên thủy. Tuy đã bắt đầu có sự phân hóa giàu nghèo, nhưng trong xã hội, các quan hệ sở hữu tập thể, của dòng họ và của cả buôn còn chi phối sâu sắc. Hình thức sản xuất chủ yếu là săn bắn, hái lượm, nương rẫy. Công cụ sản xuất thô sơ với chiếc xà gạc, cái cây chọc lỗ, tra hạt… nền sản xuất mang tính chất khép kín tự cung tự cấp. Hình thức trao đổi, phân phối sản phẩm chủ yếu bằng hiện vật, mang tính bình quân. Với lối sống du canh du cư, đốt rừng làm rẫy, việc no, đói phụ thuộc phần lớn vào tự nhiên và xem đó như là sự ban phát của tự nhiên. Vì thế, trong xã hội Ê Đê cổ truyền, đời sống hiện thực của con người gắn chặt với tín ngưỡng tâm linh. Họ tin vào lực lượng siêu nhiên, các vị thần ở 3 tầng thế giới: Trời, mặt đất và trong lòng đất, và đặt ra hàng loạt những lễ thức cầu xin sự trợ giúp của các đấng thần linh để đạt được những ước nguyện của mình: mùa màng tươi tốt, tránh được hoạn nạn, buôn làng có nhiều niềm vui và hạnh phúc.

Tính chất nền sản xuất, thiết chế gia đình, tín ngưỡng đã hình thành nên bản sắc văn hóa của người Ê Đê, trong đó có văn hóa pháp lý được thể hiện trong luật tục của họ1.

Mặc dù cuộc sống còn hoang sơ, nhưng sự hình thành luật tục của người Ê Đê đã phản ánh nhu cầu khách quan là: cần quản lý, phối hợp và điều chỉnh những mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng để duy trì sự tồn tại và phát triển. Trong quá trình đó, luật tục đã dần dần được hình thành từ những kinh nghiệm được chắt lọc qua cuộc sống của nhiều thế hệ, góp phần tạo nên các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc, cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức, pháp lý theo quan niệm của người Ê Đê.

* Về cơ cấu của luật tục: Dựa vào 236 điều của luật tục đã được L. Sabatier2 sắp xếp thành 11 chương ta thấy: Nếu so sánh với một số bộ luật của các quốc gia phương Đông và phương Tây thời kỳ cổ đại khi những nước này mới thoát ra khỏi xã hội Công xã thị tộc như: Luật Hammurabi (Lưỡng Hà), Luật Manu (Ấn Độ), Luật 12 bảng (La Mã), thì Luật tục của người Ê Đê có những điểm tương đồng. Đó là không có sự phân định rõ ràng giữa các quy phạm điều chỉnh những quan hệ dân sự và những hành vi phạm tội. Điều này xuất phát từ một thực tế là do trình độ sản xuất thấp kém nên những quan hệ dân sự trong cộng đồng người Ê Đê còn rất mờ nhạt, đặc biệt là quan hệ trao đổi hàng hóa (mua bán, vay mượn), chỉ được quy định trong 6 điều, từ điều 186 đến điều 191 với nội dung rất đơn giản. Số lượng điều luật chiếm nhiều nhất và cũng chặt chẽ nhất là những điều luật quy định về Hôn nhân và gia đình (54 điều), đó là nhóm quan hệ xã hội rường cột nhất chi phối đời sống của từng cá nhân trong cộng đồng. Có thể thấy rằng, luật tục đã rất xem trọng yếu tố con người trong mối tương quan với thế giới tự nhiên, với cộng đồng và tín ngưỡng. Thứ đến là vấn đề sở hữu tài sản, được quy định trong 38 điều, nhưng đó là tài sản của gia đình mẫu hệ. Mọi của cải trong gia đình đều thuộc quyền quản lý của mẹ hay người đại diện cho mẹ là chị cả. Việc thừa kế tài sản cũng được tính theo dòng mẹ. Một phần của cải của người chồng đã chết cũng phải đem trả về cho mẹ hay chị em gái của anh ta (điều 182). Nhóm những điều luật chiếm vị trí thứ 3 về số lượng với 33 điều quy định mối quan hệ giữa người đứng đầu buôn với các thành viên, nhằm đảm bảo kỷ cương, đảm bảo quyền dân chủ, bình đẳng trong quan hệ cộng đồng buôn làng.

* Về nội dung của luật tục Ê Đê: Như các tác giả trong quá trình nghiên cứu và sưu tầm luật tục đã nhận định: Luật tục ở mức độ nào đó chỉ mới bó hẹp trong phạm vi một buôn3. Nhưng luật tục Ê Đê đã đề cập đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống, từ sản xuất, tổ chức xã hội và quan hệ cộng đồng, gia đình và quan hệ gia đình, quan hệ nam nữ đến lễ nghi, tín ngưỡng…

Luật tục đã phản ánh tư duy duy lý dân gian của người Ê Đê trong quá trình tồn tại và phát triển. Những khuôn khổ, cách thức sống được đặt ra không đơn thuần là sự nhận thức cảm tính mà đã được định hình bằng những lý lẽ được coi như chân lý mà ai cũng phải nghe theo, không còn sự lựa chọn nào khác. Ví dụ như: Trong gia đình con cái phải nghe theo lời cha mẹ, ngoài cộng đồng mỗi thành viên phải nghe theo lời của trưởng buôn, ai làm trái với điều ấy phải đưa ra xét xử, đó là quy tắc. Những lý lẽ đưa ra để thuyết phục người ta cần phải xử sự theo quy tắc đó là:

Có cây đa thì phải hỏi cây đa, có cây sung thì phải hỏi cây sung, có mẹ cha thì phải hỏi mẹ cha.

Kẻ như lưỡi dao lại muốn dày hơn sống dao, là một trẻ nít lại muốn khôn ngoan hơn người lớn; có mẹ, có cha mà không hỏi mẹ cha.

Có cây đa đầu suối, có cây sung đầu làng, người trông nom dân làng mà không hỏi. Hắn đi rừng lấy củi mà không hỏi cha, đi suối lấy nước mà chẳng nói với mẹ; bán

cái này, mua cái nọ mà không hỏi các ông già bà cả.

Như vậy là có chuyện sai lầm phải đưa ra xét xử (Điều 27).

Những lý lẽ ấy đã được bắt nguồn từ chính cuộc sống hiện thực mà con người không thể phủ nhận, tạo cho họ niềm tin và dẫn dắt họ trong cuộc sống.

Xuyên suốt 236 điều trong luật tục là tính cộng đồng với tinh thần bình đẳng, dân chủ, bác ái. Dù là việc xảy ra trong một gia đình, một dòng họ như: kết hôn, sinh tử… mọi người vẫn ghé vai gánh vác xem như đó là công việc chung. Cho đến những việc như sửa sang bến nước, tế lễ thần linh hoặc hệ trọng hơn như bảo vệ an ninh cho buôn làng, các chủ hộ đều được chủ làng, chủ bến nước mời tới bàn bạc và đóng góp. Trẻ mồ côi, người thiếu ăn, bệnh hoạn, đều được mọi người nâng đỡ, chở che. Lối sống dân chủ, bác ái ấy đã gắn bó con người lại với nhau, mỗi người, mỗi nhà đều tự coi là một thành viên không

thể rời xa cộng đống. Luật tục đã quy định rất rõ trách nhiệm của mỗi cá nhân, của cá nhân với cộng đồng, đồng thời cũng nêu rõ trách nhiệm của thân tộc đối với mỗi thành viên trong dòng họ, nhằm mục đích tạo nên sự bình đẳng giữa các thành viên. Không có sự phân biệt, ưu đãi tầng lớp trên, hoặc ngược đãi tầng lớp dưới trong mọi lĩnh vực của đời sống buôn làng.

* Về cơ chế điều chỉnh của luật tục: Luật tục được hình thành và tồn tại trong đời sống của người Ê Đê đã đáp ứng được nhu cầu khách quan mà bất kỳ một cộng đồng người nào, một thiết chế xã hội nào cũng cần đến, đó là nhu cầu về quản lý. Nhưng do phương thức sản xuất còn ở trình độ thấp nên nhu cầu quản lý cũng như tính chất của hoạt động quản lý còn khá đơn giản, vì thế nên luật tục có cơ chế điều chỉnh riêng của nó. Bằng nhiều cách thức như: giáo dục, răn đe, xử phạt, luật tục đã tác động đến nhận thức và hành vi của các thành viên trong cộng đồng, tạo nên một trật tự cần thiết cho các hoạt động chung như: tổ chức sản xuất, bảo vệ buôn làng… và bảo vệ lợi ích của từng cá nhân, từng dòng họ. Nhưng vượt lên trên các phương pháp cụ thể ấy là nguyên tắc tự quản kết hợp với những quan niệm về tín ngưỡng.

Cuộc sống của người Ê Đê gắn bó chặt chẽ với thế giới tự nhiên, chan hòa với thế giới tự nhiên. Họ lấy từ tự nhiên những sản vật phục vụ cho nhu cầu của mình. Dựa vào mặt trời, mặt trăng để định đơn vị thời gian: Ngày đêm (mặt trời), tháng (mặt trăng), năm (mùa rẫy, mùa hoa, mùa chim bay về và bay đi). Tuy vậy, con người vẫn thấy bất lực trước thiên nhiên, vũ trụ bao la. Những tai họa cứ bất thần ập đến, tàn phá cây trồng, giết hại người và gia súc… con người trở nên nhỏ bé, yếu ớt và họ tìm chỗ dựa tinh thần bằng việc tưởng tượng ra các vị thần linh, và tin rằng chỉ có các vị thần ấy mới có sức mạnh hơn con người. Thần Aê Điê là thần tối cao trông coi cả 3 thế giới: tầng trời, mặt đất và tầng dưới đất; các thần thời tiết: Yang Liê (bão tố), Yang Briêng (thần tai nạn)… mỗi thần đều có tác động nhất định đến con người. Mùa màng bị tàn phá là do sự trừng phạt của thần ác đối với con người. Khi được mùa là do thần thiện ưu ái với con người. Và để các vị thần vừa lòng mà ra tay giúp đỡ, hay ngưng lại sự trừng phạt, con người phải tổ chức những lễ nghi cầu khấn, suy tôn. Sự gắn bó con người với các vị thần linh đã hình thành nên cơ chế tự điều chỉnh, con người cảm thấy có một lực lượng vô hình luôn kiểm tra, theo dõi và uốn nắn hành vi của họ. Vì thế mà mỗi cá nhân, mỗi gia đình, dòng họ đều tự răn mình và giáo dục các thành viên khác điều chỉnh hành vi theo quy định của luật tục, ngăn chặn những hành vi làm thương tổn đến lợi ích của người khác và của cộng đồng, hướng con người tới các điều thiện. Khi các cá nhân không tự điều chỉnh và có sự vi phạm luật tục hoặc có những mâu thuẫn, xung đột với nhau mà không tự giải quyết được thì sẽ có sự can thiệp của cộng đồng bằng một thiết chế có tính quyền lực – Tòa án phong tục. Trong mỗi buôn Ê Đê đều có những Khoa phat kđi – là người am hiểu và thông thuộc luật tục, có uy tín trong buôn làng (thường là các già làng) – đứng ra giải quyết các mâu thuẫn, xung đột. Trong xử kiện, Khoa phat kđi đọc luật tục (bằng văn vần) và sử dụng các biện pháp của nghi thức cổ truyền, rồi sau đó phán xử như một ông chánh án được tín nhiệm tuyệt đối. Khi mỗi bên nguyên, bên bị đã được xét xử xong, bao giờ cũng kèm theo một nghi lễ nhằm chấm dứt những thù oán giữa các bên với sự chứng giám của các vị thần linh và dân chúng. Vấn đề đáng quan tâm ở đây là, những điều ghi trong luật tục cũng như cách giải quyết của tòa án phong tục chủ yếu là hòa giải, giáo dục hơn là kết tội, trừng phạt. Ngay cả khi một người bị quy tội thì biện pháp trừng phạt thực chất vẫn là một hình thức hòa giải, giáo dục. Hiện nay, Tòa án phong tục chỉ còn có ở những vùng xa các đô thị, xa các trục lộ giao thông chính. Những nơi không còn tòa án phong tục thì thay vào đó là nhóm, tổ hòa giải để giải quyết các mâu thuẫn, xung đột xảy ra trong buôn trên cơ sở luật tục, mà biện pháp chính vẫn là hòa giải, giáo dục, răn đe. Chỉ khi nào Tổ hòa giải không xử lý được thì vụ việc mới được chuyển lên Tòa án nhân dân cấp huyện, tỉnh. Sự vận hành như vậy của luật tục vào đời sống xã hội thật đơn giản.

Nó khác với cơ chế điều chỉnh p của Nhà nước được kết hợp bởi nhiều yếu tố và quy trình pháp lý khá phức tạp. Nhưng chính từ cơ chế điều chỉnh đơn giản ấy của luật tục mà các thành viên trong cộng đồng gắn bó với nhau hơn và đó là cơ sở xã hội làm cho luật tục tồn tại lâu dài.

* Về ngôn ngữ diễn đạt: Trong văn học dân gian truyền thống của người Ê Đê, lời nói vần Duê là một hình thức ngôn từ đặc biệt và phổ biến trong văn chương truyền miệng Ê Đê như tục ngữ, truyện cổ, trường ca, thần thoại, dân ca. Lời nói vần là sự chắt lọc tinh túy từ những tri thức, kinh nghiệm dân gian. Trong giao tiếp, người ta vẫn thường xen vào những câu nói vần như để làm chuẩn mực đối chiếu xã hội. Trong luật tục, những câu nói vần được gọi là Duê Kđi. Nó giống như khẩu ngữ hàng ngày với cách nói ví von, so sánh, hình tượng nhưng cũng rất cụ thể, cách dùng ngoa ngữ để khẳng định điều muốn nói. Nhưng Duê Kđi có tính chất thiêng liêng hơn vì được coi như những câu nói của ông bà tổ tiên, của các thần linh đã để lại cho con cháu.

Ví dụ như để trừng phạt những kẻ có hành vi bịa đặt, vu cáo cho người khác về những điều không có thực, luật tục đã mô tả hành vi đó như sau:

Hắn bịa chuyện vu khống cả kẻ sang, người giàu.

Hắn nói, họ như một cây gạo đã rỗng ruột, như một cái cối đã thủng đáy trong khi chẳng có tí gì như vậy cả.

Có những chàng trai trong làng, những cô gái ngây thơ, những người Mnông, người Bih chất phác thật thà, đã bị hắn đổ cho là đã đi vào bụi vào bờ (lén lút) ăn thịt bò, thịt trâu (đã đánh cắp)…

Có thể thấy, ngôn ngữ trong luật tục hầu hết là thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh cụ thể, sinh động. Những hình ảnh ấy vừa cô đọng, sâu sắc, vừa giản dị, dễ nhớ, dễ lưu truyền làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung và nhận thức bằng trực giác mà không cần đến một sự giải thích nào khác. Với ngôn ngữ ấy, Luật tục đã phản ánh thế giới tự nhiên và đời sống của con người rất cụ thể, được các thành viên trong cộng đồng tiếp nhận và lưu giữ dễ dàng.

Mặc dù luật tục Ê Đê mới chỉ đề cập đến những quan hệ xã hội trong phạm vi hẹp của một cộng đồng người mà phương thức sản xuất chưa phát triển, nhưng nó đã khẳng định sự tồn tại của một cộng đồng người có tổ chức, có kỷ cương mà những khuôn mẫu ấy đã vượt lên trên những tập quán thông thường.

Nghiên cứu văn hóa pháp lý của luật tục nói chung và luật tục Ê Đê nói riêng phần nào giúp chúng ta tìm được cơ chế thích hợp cho việc áp dụng pháp luật thực định vào đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN trong điều kiện nước ta hiện nay, khi các vùng dân cư vẫn còn sự khác biệt về kinh tế và văn hóa.

Chú thích:

1, 2, 3 Xem : Luật tục Ê Đê, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 2/2001

29 thg 12, 2007

TÍNH CÁCH VIỆT

Hãy đắp điếm nhớ thương
phủ nhiều hoa lên dĩ vãng.
Rồi biên chế ba lô cho nhẹ gánh lên đường.

1. Những đặc tính của một dân tộc không phải trời cho ngay một lúc, mà được hình thành dần trong những điều kiện đặc biệt về không gian (hay địa lý) và thời gian (hay lịch sử).
Có thể nói đặc tính nổi bật nhất của người Việt là đặc tính chống (hay tự vệ¬).
Câu hỏi Tồn tại hay không tồn tại luôn được đặt ra với chúng ta một cách bức thiết trong suốt chiều dài của lịch sử. Và chỉ riêng việc tồn tại của một nước Việt Nam trên bản đồ thế giới đã có thể coi là một kì tích.
Trải đằng đẵng hàng nghìn năm Bắc thuộc từ thuở còn trứng nước mà không bị tiệt giống (hay đồng hóa) bản thân nó đã nói lên sức sống “bất trị” của các dân tộc Việt.
Một số nước lớn có một thói quen rất du đãng của bọn xã hội đen là bắt nạt các nước yếu. Và luôn nhận vơ lãnh thổ của họ bất chấp lẽ phải và đạo lý. Việc dám “chơi nhau” tay bo với các “bố già” sừng sỏ nhất đến từ phương Bắc, từ phía mặt trời mọc, từ châu Âu và cả châu Mỹ xa xôi cho họ phơi bụng đã chứng tỏ bản lĩnh thiện chiến của “nhược tiểu” Việt Nam.
Nó được gói gọn trong hai câu ca dao tuyệt vời hào khí dưới đây:
Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu nát dè đâu xe kềnh

Nếu chúng ta có một truyền thống “chống” number – one, chúng ta chưa có đủ điều kiện và thời gian để tự tạo cho mình một truyền thống “xây” cân xứng.
Hay nói như các nhà khoa học nhân văn, Việt Nam có một truyền thống tự vệ hàng đầu nhưng còn thiếu truyền thống “phát triển”. Nói thế không có nghĩa là ta không có khả năng phát triển mà chỉ có nghĩa rằng đó là một sở đoản, cần phải nỗ lực học tập, rèn luyện trường kì để biến nó thành sở trường.

2. Đã có một thời nhận xét sau đây rất được truyền tụng:
“Ta đã thắng đế quốc Mỹ thì khó khăn nào ta cũng thắng được”.
Nhận xét này không hoàn toàn sai, nhưng không đủ, và hơi vội. Đánh Mỹ oanh liệt trong chiến tranh giải phóng dân tộc và phát triển bền vững đất nước thành một quốc gia công nghiệp tiền tiến là hai việc khác nhau, đòi hỏi những kinh nghiệm khác nhau.


Xây dựng một nước Việt Nam to đẹp, đàng
hoàng phát triển cả về mặt GDP lẫn nhân phẩm.

Trong những điều kiện đã thay đổi, những ưu điểm của thời trước có thể trở thành nhược điểm thậm chí, trở ngại của thời kì sau.
Trong chiến tranh du kích, một đặc tính tối cần thiết là sự đối phó mau lẹ, một khả năng “tháo vát”, “giật gấu vá vai”, “hoạt trí” hơn là những suy tính dài hơi, có tính hệ thống. Đó là nguyên nhân chính (ở đây tôi không đề cập đến tệ tham nhũng) của những kế hoạch kinh tế vội vàng, “chụp giật” làm tốn kém tài sản nhiều khi tới mức kếch xù của nhân dân.
Một kế hoạch tốt không đòi hỏi một sự ứng phó nhanh mà đòi hỏi một suy tính bình tĩnh, bao quát, xây dựng trên những thông tin đầy đủ và những luận chứng xác đáng. Xuất phát từ một trình độ tri thức của những chuyên viên tinh thông. Vì thiếu cái khả năng này nên chúng ta thường đưa ra những kế hoạch vội vàng, “ăn đong”, phải liên tục sửa chữa, càng sửa chữa càng rối, càng nát.

3. Những tính cách của một dân tộc có thể coi là vốn xã hội của dân tộc đó, mà đã nói đến vốn, thì phải nói đến việc sử dụng vốn đó một cách tối ưu. Muốn đạt được sự tối ưu đó, cần phải xây dựng một lớp người quản lí xã hội có tri thức, nghĩa là hiểu biết dựa trên một hệ thống thông tin minh bạch và trung thực.
Không ít người thường lẫn lộn một thông tin khoa học với một thông tin quảng cáo. Ở ta, có một thói quen rất không tốt là coi những người nói về những khuyết điểm của cộng đồng là kém yêu nước hơn những người nói về ưu điểm. Người ta sẵn sàng chấp nhận những ưu điểm “ảo” và dị ứng những khuyết điểm “thật”. Trong một xã hội trung thực nói những ưu điểm “ảo”, hoang đường sai lệch nhằm những mục đích vụ lợi cần phải được phê phán nghiêm khắc như một hành động vu cáo.
Quảng cáo cần thông tin đẹp để quyến rũ, khoa học cần thông tin xác thực để hiểu biết và thức tỉnh.
Đó là hai chuyên ngành khác nhau.

4. Ai cũng biết nông dân Việt Nam nổi tiếng là cần cù, hay lam hay làm.
Chính những người nông dân cần cù này đã một thời trở thành những kẻ chây lười, tắc trách do tác động một số chính sách nông nghiệp sai lầm của chúng ta về hợp tác hóa.
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc nổi tiếng có truyền thống hiếu học.
Chúng ta đã sử dụng vốn đó thế nào khiến nạn chạy bằng, chạy điểm, chạy lớp lan tràn khắp nước, đến mức người phụ trách cao nhất của ngành Giáo dục phải lớn tiếng kêu gọi: “Nói không với tiêu cực trong học đường”. Trong ngôn ngữ thông dụng của hoạt động kinh tế thị trường, người ta gọi đó là “buôn thua bán lỗ”, là ăn vào vốn.
Đã có một thời người ta ca ngợi tính cách “phép vua thua lệ làng”, quan hệ làng xóm “tối lửa tắt đèn”, “chín bỏ làm mười” của người Việt như một ưu điểm trong việc xây dựng một nền dân chủ của xã hội.
Phải biết rằng trong quá trình xây dựng một nhà nước pháp quyền, đó là một điều tối kị, nó dẫn đến tình trạng “trên bảo dưới không nghe”, ảnh hưởng rất xấu đến sự thực thi của pháp luật. Một xã hội văn minh phải là một xã hội có kỉ cương thông suốt từ trên xuống dưới.
Việc chấp hành kỉ luật một cách thoải mái, thân thiện với một cộng đồng làng xã có thể rất dễ chịu nhưng nó tiềm ẩn một nguy cơ rất lớn khi ta xây dựng một xã hội công nghiệp kỹ thuật cao, chẳng hạn công nghệ nguyên tử.
Một nhà báo đã nói đùa: Đứng về mặt giao thông đô thị thì Việt Nam là nước tự do nhất thế giới.
Chúng ta thường tự hào đất nước có hàng nghìn cây số bờ biển nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa xây dựng được một nền văn minh biển. Không xây dựng được một nền văn minh biển thì làm sao ra biển lớn được? Các nhà sử học đều biết rằng, biển đóng một vai trò lớn như thế nào trong việc xây dựng một nền văn minh năng động và hiện đại.
Một nhà văn hài hước đã bình luận câu hát rất phổ biến “Biển một bên và em một bên” như sau: Đó là tấn bi kịch của anh nằm giữa, quay sang Đông thì bên Tây hứ, quay sang Tây thì bên Đông hừ. Bao giờ thì chúng ta thực sự ra biển?
Mong ước đau đáu suốt đời và sau đời của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nước Việt Nam to đẹp, đàng hoàng phát  triển cả về mặt GDP lẫn nhân phẩm.
Khi nghiên cứu những tính cách của dân tộc, chúng ta nhất thiết không được đãng trí mục tiêu trên.
Cần phải thẳng thắn nhận thức rằng, muốn xây dựng một quốc gia tiên tiến chỉ có sự thông minh, tháo vát, nhiệt tình thôi không đủ. Mà cần, rất cần một cái nhìn bao quát, có hệ thống và tầm xa của tri thức.
Việc nâng cao dân trí cũng như quan trí đã trở thành một đòi hỏi sống còn, bức bách đối với sự phát triển của đất nước Việt Nam.
-----------------

Lê Đạt

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

15 thg 9, 2007

VỀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA KHUÔN MẪU GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Gia đình là phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người; là một thiết chế xã hội quan trọng, liên quan đến hoạt động của toàn xã hội và mỗi cá nhân. Theo quan điểm hệ thống, mỗi thiết chế ấy biến đổi sẽ dẫn đến cả hệ thống biến đổi và ngược lại, những thiết chế xung quanh gia đình trong hệ thống xã hội nói chung (như kinh tế, pháp luật, văn hóa…) biến đổi cũng khiến cho gia đình biến đổi theo. Gia đình Việt Nam không nằm ngoài quy luật này. Vậy khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện nay đã có những biến đổi gì trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập? Nhân Ngày Gia đình Việt Nam (28.6), Tạp chí xin giới thiệu một số phân tích, lý giải về vấn đề này.

Biến đổi gia đình Việt Nam từ sau đổi mới và những kiến giải khoa học

Trên bình diện quản lý xã hội, qua sự thay đổi trong các nội dung điều, khoản của Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2000 so với nội dung trước khi sửa đổi có thể thấy được những biến đổi trong thiết chế xã hội đặc biệt này trước và sau đổi mới. Căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình mới, người ta nhận thấy đã có những biến đổi sau: Thứ nhất, quan niệm về gia đình, vấn đề sở hữu, các mối quan hệ trong gia đình có nhiều biến đổi. Thứ hai, gia đình biến đổi theo hướng có nhiều yếu tố cá nhân hơn. Thứ ba, các vấn đề trong gia đình ngày càng đa dạng và trở nên phức tạp1. Đây là một thực tế không thể phủ nhận được trong bối cảnh đất nước có nhiều thay đổi trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội…

Từ cách tiếp cận xã hội học, xét về bản chất, gia đình có 4 chức năng cơ bản (sinh sản, giáo dục, kinh tế và tâm lý - tình cảm). Cả 4 chức năng này đã và đang xuất hiện những yếu tố mới. Điều này đã được nhiều nghiên cứu chuyên sâu về gia đình chỉ ra. Tuy nhiên, song hành cùng sự biến đổi về kinh tế, xã hội ở nước ta, chức năng nào biến đổi nhiều nhất, tạo được dấu ấn rõ nét cho khuôn mẫu mới của gia đình trong xã hội hiện đại vẫn đang là vấn đề có nhiều bàn cãi. Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Nếu có gì gọi là mới trong gia đình Việt Nam hiện đại thì có lẽ là sự tăng cường yếu tố dân chủ trong cái tổ chức rất đáng yêu, cần phải yêu này. Xã hội mới tạo điều kiện cho mỗi người có giá trị tự thân. Thêm một nhân tố nữa để bảo đảm sự bình đẳng trong các tương quan và chức năng của mỗi thành viên trong gia đình. Không có áp bức, thống trị ở đây - xét về mặt khái quát”2.

Nhiều học giả khác lại cho rằng, vấn đề giáo dục gia đình đang có xu hướng thay đổi trong xã hội hiện đại bởi những vấn đề mà giới trẻ hiện nay đang gặp phải như các tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, sự tôn kính đối với ông bà cha mẹ có xu hướng giảm sút... hay sự chuyển giao, phó mặc chức năng này của gia đình cho các thiết chế xã hội khác như trường học, dịch vụ xã hội (dịch vụ chăm sóc trẻ, giúp việc tại nhà)... Sự biến đổi về quy mô, kiểu loại gia đình, những biến đổi trong đời sống hôn nhân, tâm lý - tình cảm và sự lựa chọn trong kết hôn cũng được quan tâm đáng kể trong những nghiên cứu về gia đình trong thời gian qua.

Rõ ràng, rất nhiều khía cạnh khác nhau của gia đình đều đang có những biến đổi trong điều kiện xã hội biến đổi, điều đó đã tạo nên sự biến đổi khuôn mẫu gia đình nói chung. Vì thế, việc xác định rõ ràng, chuẩn xác đặc trưng của gia đình Việt Nam hiện nay là một vấn đề không dễ dàng.

Về xu hướng biến đổi khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện nay

Với khái niệm “Tam giác gia đình”3 của tác giả Hồ Ngọc Đại: “Gia đình là một khái niệm mới được hình thành từ ba thành phần, gồm những “đại lượng khác tên” là bố, mẹ và con cái hình thành nên một tam giác gia đình” đặt trong bối cảnh gắn với tam giác đời sống xã hội mà ba đỉnh là cá nhân - gia đình - xã hội thì đây là một mối liên hệ khó có thể bóc tách được. Điều này cho thấy sự biến đổi của gia đình luôn gắn với sự biến đổi của các cá nhân và xã hội. Hiển nhiên, gia đình là hệ quả của mối tương tác giữa các cá nhân và xã hội đang sống. Gia đình với chức năng của nó sẽ cố gắng điều hoà các mối quan hệ này phù hợp với hoàn cảnh xã hội. Dưới đây xin đề cập hai chiều tác động (cá nhân và xã hội) đến gia đình dẫn đến việc biến đổi khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện đại.

Tác động cá nhân đến gia đình

Mặc dù chưa có khái niệm chuẩn và thống nhất về gia đình nhưng dường như có sự đồng thuận rộng rãi ở một điểm: Gia đình là tập hợp các cá nhân có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng... trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các thành viên (hay cá nhân). Có thể quy giản quan hệ này thành 3 mối quan hệ chủ yếu: Vợ - chồng, cha mẹ - con cái, anh chị - em (con cái với nhau). 3 mối quan hệ cơ bản này có ảnh hưởng lớn đến thiết chế gia đình. ở từng thời điểm lịch sử khác nhau thì các mối quan hệ này có những đặc trưng khác nhau. Ví dụ, trong xã hội truyền thống thì quan hệ vợ - chồng, cha - con, anh - em theo một tôn ti, trật tự chặt chẽ nhưng cho đến nay, sức nặng của tôn ti, trật tự đó không còn bao nhiêu nữa mà thay vào đó là sự bình đẳng hơn theo kiểu “trên kính dưới nhường”. Mỗi cá nhân trong gia đình đều xác lập một vị thế và không gian riêng cần các thành viên khác tôn trọng. Điều này có nghĩa là tự do cá nhân được đề cao. Vả chăng, trong bối cảnh xã hội hiện đại, sự ra đời của các phương tiện truyền thông mới (điện thoại di động, Internet…) càng làm cho xu hướng cá nhân hoá mạnh mẽ hơn... Phải chăng, những thực tiễn đó đã dẫn đến các mối quan hệ trong gia đình lỏng lẻo hơn, và đó cũng là nguyên nhân của sự rạn nứt trong gia đình ngày nay như nhiều nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi? Khó có thể khẳng định đó là mối quan hệ nhân - quả nhưng rõ ràng, khi mỗi cá nhân theo đuổi những lợi ích riêng của mình như học vấn, địa vị, kinh tế... thì các mối quan hệ trong gia đình bị “nhạt” đi. Và cái tôn ti, trật tự kia hầu như không còn sức mạnh để níu kéo các thành viên trong gia đình lại với nhau. Mô phỏng trong tam giác gia đình của Hồ Ngọc Đại thì diện tích của tam giác sẽ lớn hơn, do vậy các cạnh (thể hiện mối quan hệ) đó sẽ bị kéo dài ra. Theo quy luật của cơ học thì sức đàn hồi, hay “độ cứng” của vật thể tỷ lệ nghịch với chiều dài của vật thể đó. Vận dụng mô hình toán học và cơ học này vào trong quan hệ gia đình có thể thấy rằng các mối quan hệ đó “dễ” bị đứt gãy hơn so với khi các quan hệ đó còn “khép kín”. Sự lỏng lẻo trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình sẽ dẫn đến những hệ quả tích cực và tiêu cực nhất định

Về mặt tích cực, tính cơ động, hướng ngoại trong các thành viên trong gia đình càng lớn thì thiết chế đó càng phát triển trên bình diện kinh tế, giáo dục, vị thế xã hội... do các cá nhân đầu tư nhiều thời gian, tâm huyết hơn để giành các lợi ích đó cho riêng mình. Điều này ảnh hưởng rất tích cực đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung. Không chỉ vậy, nó còn là một chỉ báo cho bình quyền của các thành viên, đặc biệt là phụ nữ trong gia đình được giải phóng trong quá trình dân chủ hoá xã hội trở nên mạnh mẽ, thường xuyên, liên tục hơn, các thành viên có điều kiện phát huy hết năng lực của cá nhân mà không bị ràng buộc theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” hoặc “trên bảo dưới nghe”...

Tuy nhiên, những hệ lụy tiêu cực của mối quan hệ lỏng lẻo này là cái giá phải trả. Đó là sự rạn nứt trong gia đình, là nguồn gốc của những biểu hiện tiêu cực trong xã hội như tệ nạn xã hội, văn hoá ứng xử xuống cấp, đạo đức bị coi nhẹ hay tình trạng ly hôn, ly thân, sống độc thân gia tăng... mà xã hội đang cố gắng có những giải pháp kiềm chế.

Tác động xã hội đến gia đình

Sự biến đổi kinh tế, xã hội của nhân loại dẫn đến sự thay thế lẫn nhau của các hình thái gia đình. Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đã và đang gặt hái nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, nhưng mặt trái của kinh tế thị trường cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự biến đổi khuôn mẫu của gia đình. Đây là một quy luật tất yếu, khôn cưỡng. Đánh giá một cách công bằng, những đổi thay về kinh tế, xã hội, tăng cường giao lưu văn hoá đã mang lại cho gia đình những luồng sinh khí mới như nâng cao thu nhập, mức sống, mức hưởng thụ, trình độ tiêu dùng, đời sống vật chất và tinh thần, thông tin của các thành viên. Chưa bao giờ trong lịch sử có những biến chuyển lớn đến như vậy diễn ra trong khung cảnh của gia đình. Những tiến bộ trong quan niệm về bình đẳng, bình quyền, loại bỏ những tập tục, chuẩn mực lạc hậu trong xã hội cũ cũng đã tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt là nữ giới được phát triển và nâng cao vị thế xã hội.

Tuy nhiên, mặt trái của những biến đổi xã hội và giao lưu văn hoá, thông tin cũng ảnh hưởng rất lớn đến khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện nay, dẫn tới những hệ lụy nhất định. Ví dụ như, sự cám dỗ của vật chất hay sức ép của vấn đề nghèo đói, thu nhập, vị thế xã hội đã khiến cho gia đình biến đổi một số đặc trưng về chức năng và quy mô. ở không ít gia đình, do quá chú trọng vào việc kiếm tiền, tăng thu nhập, giành vị thế xã hội..., mà cha mẹ giảm đi sự quan tâm tới con cái, giữa các thành viên ít giao tiếp với nhau hơn. Có nhà nghiên cứu cho rằng, thậm chí trong một bộ phận gia đình, sự tồn tại của các thành viên bên cạnh nhau giống như sự gá lắp rời rạc, thưa vắng dần sự quan tâm, lo lắng, chăm chút cho nhau và các thành viên trong gia đình thì dường như “gặp nhau lần nào cũng vội”4. Khi đó, hầu như trường học và các thiết chế xã hội khác đã phải “làm thay” nhiều chức năng của gia đình. Có thể thấy sự biến đổi rất rõ ở các gia đình trong thời gian qua khi mà quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tốc độ nhanh chóng, quy mô lớn đã, đang và sẽ làm cho quá trình mất đất nông nghiệp diễn ra ngày càng nhiều, tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh khiến cho nhiều gia đình nông thôn trở thành gia đình thành thị “cưỡng bức” trong điều kiện mất đất song chuyển đổi nghề nghiệp chậm, thiếu việc làm, gây ra tình trạng bất ổn định trong gia đình. Bên cạnh đó, tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, bệnh tật... lại có nguy cơ phát triển, làm tha hoá một bộ phận dân cư, nhất là giới trẻ. Những yếu tố ngoại cảnh này đã ảnh hưởng không nhỏ tới gia đình, làm thay đổi cả quy mô, cơ cấu, quan hệ và chất lượng gia đình5. Quan niệm về hôn nhân, gia đình hiện nay cũng đang dần dần thay đổi do hoàn cảnh xã hội tác động. Những hiện tượng như quan hệ tình dục trước hôn nhân, đồng tính luyến ái, sống thử, kết hôn muộn, sống độc thân, ly thân, ly hôn không ngừng tăng lên và có tính đột biến6. Đây là những biểu hiện vốn chưa xuất hiện trong gia đình Việt Nam truyền thống mà nó chính là sản phẩm của xã hội phương Tây du nhập vào nước ta trong quá trình mở cửa, hội nhập. Văn hoá phương Tây tràn vào một cách ồ ạt phần nào vượt qua sự kiểm soát của gia đình, nhà trường và xã hội, ảnh hưởng đến tính bền vững của gia đình và làm cho cấu trúc của gia đình dễ “vỡ” hơn. Với sự nâng cao tính cơ động kinh tế, xã hội thì gia đình tỏ ra là một thiết chế xã hội nhạy cảm và năng động đối với những thay đổi của môi trường kinh tế, xã hội. Điều đó dẫn đến những biến đổi về lượng cũng như về chất của gia đình theo bối cảnh xã hội.

Tựu chung lại, có thể khái quát một số xu hướng biến đổi đặc trưng khuôn mẫu từ gia đình truyền thống đến gia đình hiện đại như sau:

Thứ nhất, quy mô, kích cỡ gia đình Việt Nam đang dần dần “thu hẹp lại”, gia đình hạt nhân đang trở nên phổ biến, dần thay thế gia đình mở rộng nhiều thế hệ sống trong một mái nhà. Xu hướng này biểu hiện rõ nét hơn khi tốc độ đô thị hoá ngày càng gia tăng.

Thứ hai, chức năng giáo dục thế hệ trẻ và truyền thụ văn hoá đang ít nhiều bị xem nhẹ. Gia đình đang có xu hướng “giao phó” chức năng này cho thiết chế trường học và hệ thống các dịch vụ xã hội khác.

Thứ ba, chức năng kinh tế gia đình đang có xu hướng chuyển phần “sản xuất” sang “tiêu dùng”. Vẫn tồn tại với tư cách là một đơn vị kinh tế, song các thành viên trong gia đình lại theo đuổi các mục đích khác nhau, theo đó là các hoạt động kinh tế khác nhau, mỗi thành viên có một “tài khoản” riêng mà không cùng sản xuất và chung một “nguồn ngân sách” như trong gia đình truyền thống.

Thứ tư, các mối quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo, sợi dây liên kết các thành viên đang bị “nới rộng ra” theo hướng tự chủ, phát triển độc lập và cá nhân hoá. Khuynh hướng này có thể làm suy yếu tính cộng đồng, cộng cảm trong phạm vi gia đình.

Thứ năm, vai trò điều hoà đời sống tâm lý - tình cảm trong gia đình hiện nay cũng đang bị “xói mòn”. Người già và trẻ em đang phải đối mặt với sự cô đơn, sự thiếu quan tâm và chăm sóc từ các thành viên khác trong gia đình. Họ đang dần bị “đẩy” ra các nhà dưỡng lão, nhà trẻ, trung tâm chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ xã hội khác.

Thứ sáu, cấu trúc gia đình dễ biến động, thiếu tính bền vững hơn do sự thay đổi trong quan niệm về hôn nhân, hạnh phúc, trách nhiệm với gia đình của các thành viên cũng như trong các chuẩn mực giá trị, quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Qua phân tích, có thể đi đến kết luận rằng, gia đình Việt Nam đã và đang biến đổi dưới sự tác động của những biến đổi về kinh tế, xã hội và giao lưu văn hoá toàn cầu. Sự biến đổi đó không tách rời hoàn toàn với những đặc trưng của gia đình truyền thống mà là sự điều chỉnh, thích nghi với những hoàn cảnh và điều kiện xã hội mới. Thực tế, gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức và phải lựa chọn cho mình một khuôn mẫu phù hợp, trong đó có sự cân bằng giữa việc bảo lưu những yếu tố truyền thống bền vững với những thay đổi không ngừng của xã hội hiện đại. Với khả năng thích ứng cao trên nền tảng văn hoá truyền thống, gia đình Việt Nam vẫn hoàn toàn có khả năng gìn giữ được những nét bản sắc đặc trưng của nó ngay trong điều kiện phát triển của thế giới hiện đại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Xem Phát triển Xã hội ở Việt Nam. Một tổng quan xã hội học năm 2000. Trịnh Duy Luân chủ biên. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002.

2 Bài viết: Một tổ hợp đẹp, xinh xắn, cân đối và mạnh mẽ. Những nghiên cứu Xã hội học về gia đình Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội, 1996.

3 Hồ Ngọc Đại. Tam giác gia đình. Tạp chí Xã hội học. Số 3.1990, trang 4.

4 Trịnh Hoà Bình. Chương trình thời sự Chào buổi sáng (VTV1). Nhân ngày Gia đình Việt Nam (28.6.2006).

5 Chính sách và giải pháp nhằm phát triển gia đình ở Hà Nội (Báo cáo tổng hợp). Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em và Trung tâm Xã hội học - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện tháng 3.2005.

6 Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 2.4.2007.

=======================

TRỊNH HÒA BÌNH/ TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC 6/2006

6 thg 9, 2007

Về sự biến đổi mối quan hệ giữa cá nhân - xã hội và những suy nghĩ xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới

Vũ Văn Hạc
Tạp chí Nghiên cứu con người

Bước vào thế kỷ XXI, vai trò của con người đối với sự phát triển lại càng chiếm vị trí nổi trội. Do vậy, việc nghiên cứu con người với tư cách là đối tượng được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Thực tiễn cho thấy, trong hơn chục năm gần đây vấn đề con người được nghiên cứu khá nhiều ở những chiều cạnh khác nhau, song về cơ bản trên phương diện khoa học xã hội theo chúng tôi nghiên cứu con người có 3 nội dung cơ bản: cá thể, cá nhân, nhân cách (tức là "con người" đại diện cho loài là "cá thể", "con người" khi là thành viên của xã hội là “cá nhân", "con người” khi là chủ thể hoạt động là "nhân cách").

Trong khuôn khổ của bài viết này, bước đầu, chúng tôi đề cập tới nội dung "con người" khi là thành viên xã hội, tức cá nhân, đặc biệt chú ý tới mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.

Trong Luận cương VI về Feuerbach, C.Mác chỉ rõ: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hoà những quan hệ xã hội". Điều đó có nghĩa là cần xem xét con người với tư cách là cá nhân trong mối quan hệ với xã hội, với điều kiện lịch sử cụ thể và với tình hình kinh tế xã hội của thời đại, chứ không phải con người chung chung, trừu tượng, thoát ly hiện thực. Do vậy, khi nghiên cứu sự biến đổi quan hệ cá nhân và xã hội cũng chính là nghiên cứu con người trong tính lịch sử của nó, con người đang chịu sự tác động của hoàn cảnh và cải tạo hoàn cảnh. Vì lẽ đó, đương nhiên trong giai đoạn hiện nay xã hội chuyển nhanh từ trạng thái "cũ” sang trạng thái "mới" (tức từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại), từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội cũng cần phải được nhìn nhận trong sự biến đổi ấy.

Đối với con người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện đại, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội hết sức khăng khít trong một hệ thống bền chặt Nhà - Làng - Nước. Điều này được biểu hiện rất rõ ở tính cộng đồng:

"Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước thì thương nhau cùng".

hay "Lá lành đùm lá rách", "Chị ngã em nâng"...

Tính cộng đồng bền chặt có ở con người Việt Nam cũng là điều dễ hiểu, bởi vì họ là những công dân của một Quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi, luôn phải đối mặt với những thế lực nhòm người có mưu đồ xâm lăng và đồng hoá, bởi vì họ là công dân của một đất nước có điều kiện khí hậu "mưa chẳng thuận, gió chẳng hoà"... Trong bối cảnh đó, vận mệnh của cá nhân luôn gắn chặt vào vận mệnh cộng đồng và xã hội và cá nhân sẵn sàng hy sinh những lợi ích riêng để bảo vệ lấy lợi ích chung, bảo vệ được cái chung cũng chính là sẽ giải quyết được cái riêng. Vì thế sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam vẫn giành lại được độc lập, cốt cách của con người Việt Nam vẫn được giữ vững và phát huy.

Bước vào thời kỳ độc lập, tự chủ sau hàng ngàn năm ở triều đại phong kiến, Việt Nam lại bị các thế lực thực dân cũ và mới xâm lược. Trong bối cảnh đó, tính cộng đồng ấy lại được phát huy và khẳng định với một ý chí: tất cả vì chiến thắng tất cả cho Tổ quốc quyết sinh. Ý chí đó là sợi chỉ đỏ chỉ đạo những con người tạm thời hy sinh những nhu cầu cá nhân (tình yêu, gia đình, mơ ước riêng tư, thậm chí cả sự nghiệp...) để vì cái chung, đó là giành lại độc lập cho Tổ quốc. Đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, những "cá nhân anh hùng" lại trở về với đời thường trong mối lo toan hối hả. Lẽ ra ở giai đoạn này, những chính sách cũng như đường lối xây dựng đất nước phải xử lý tất mối quan hệ giữa cá nhan và xã hội (xét về nhu cầu và lợi ích), đặc biệt phải chú ý chăm lo đời sống cá nhân (mọi nhu cầu cá nhân phải được giải quyết và thực hiện một cách thỏa đáng). Thế nhưng, trên nền vinh quang chiến thắng đó, cùng với một tư duy duy ý chí, chúng ta muốn xây dựng ngay CNXH trên một nền tảng xã hội thiếu vững chắc, lực lượng sản xuất kém phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, những nhu cầu ăn, mặc, ở... chưa được giải quyết, dẫn tới hiện tượng có sự mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất), cho nên nền kinh tế rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chỉ rõ: "...đã có biểu hiện nóng vội xoá ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh... Nội dung cải tạo thường nhấn mạnh cải tạo quan hệ sản xuất mà không coi trọng các vấn đề tổ chức quản lý và chế độ phân phối" hay “…đã mắc bệnh duy ý chí, đơn giản hoá, muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục tiêu của CNXH. Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hoá đang tồn tại khách quan, do đó, không chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương, chính sách kinh tế".

Thừa nhận những sai lầm khuyết điểm trong cơ chế chính sách một thời gian dài làm mất động lực phát triển xã hội, Đảng ta đã chủ động tiến hành đổi mới nền kinh tế, từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Nghĩa là chính sách kinh tế phải giải quyết được câu hỏi: làm sao phát huy được tối đa sự phát triển toàn diện các cá nhân? Làm sao để chăm lo đời sống vật chất cho mỗi cá nhân trong xã hội? Mặt khác, chấp nhận nền kinh tế thị trường là chấp nhận nền kinh tế vận hành theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh... tức nền kinh tế đòi hỏi phải có sự năng động, sáng tạo, và phát huy vai trò của cá nhân, lấy hiệu quả kinh tế làm trọng. Tất cả quy luật và yêu cầu này đã và dang là tác nhân quan trọng để phá vỡ những cái "cũ” và hình thành cái "mới" trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Nói như C.Mác, mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ đang suy đồi, những tập quán được thần thánh hóa và sự “xung đột" giữa cũ và mới trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội được biểu hiện ở một số điểm căn bản:

Thứ nhất, nền sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc tạo sự khép kín trong một khuôn khổ gia đình và làng xã, do đó tạo nên những cá nhân có tính bảo thủ khá cao. Với điều kiện như vậy, dễ đàng luyện cho con người lối sống: "Năng nhặt, chặt bị", khuyến khích sự khéo tay, hay làm mà xa lạ với sự cách tân, đổi mới, tìm tòi, xung kích... Điều đặc biệt hơn, nền sản xuất nhỏ ấy lại được đung dưỡng bởi một hệ tư tưởng Nho giáo với sự phân chia đẳng cấp: Sĩ - Nông - Công - Thương. Cụ thể là trong bảng thang giá trị ấy, tầng lớp Sĩ (kẻ sĩ hay tầng lớp có học) được đứng đầu tiên trong bảng thang giá trị. Học ở đây là học sách thánh hiền, học Ngũ kinh tứ thư chứ không phải học khoa học kỹ thuật. Học ở đây là học làm quan, làm thầy chứ không phải học để làm thợ, cho nên mỗi cá nhân phải phấn đấu học cho được Ngũ kinh tứ thư, học cho được để đỗ ông Nghè, ông Tổng. Tâm lý này tồn tại tới ngày nay mà "di chứng" của nó trong xã hội chưa thể khắc phục. Đó là tình trạng: trọng bằng cấp hơn thực tài, tình trạng bằng rởm, bằng giả tồn tại không kể xiết, tình trạng thừa thầy, thiếu thợ đang tồn tại mà việc giải quyết không phải một sớm, một chiều. Cũng trong bảng thang giá trị này tầng lớp thương nhân bị xếp vào cuối bảng. Đây là tầng lớp luôn được xã hội nhìn với con mắt chẳng lấy gì làm thiện cảm. Thương nhân đồng nghĩa với vụ lợi, tiểu nhân, mánh khoé... Chính với cách nhìn như vậy, trong suốt một quá trình phát triển xã hội, tầng lớp này luôn nhỏ bé. Và đương nhiên cách nhìn và không gian xã hội đó đã dẫn tới hệ quả là hiện nay tầng lớp doanh nhân Việt Nam đang rất chật vật trong "biển cả" của nền kinh tế thị trường, trong điều kiện hội nhập và giao lưu quốc tế. Những biểu hiện thiếu tính chuyên nghiệp trong kinh doanh đó là: mất thương hiệu trên thị trường quốc tế, mất uy tín trong kinh doanh hay quảng bá sản phẩm còn yếu...

Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, yếu tố luật pháp có vai trò quan trọng đặc biệt. Bởi vì, việc điều chỉnh tất cả các quan hệ từ cá nhân tới xã hội đều bằng luật pháp, điều đó đảm bảo cho sự công bằng của mỗi cá nhân trong xã hội. Thế nhưng xuất phát từ xã hội tiểu nông cộng ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, những con người với tư cách cá nhân đã "vác nặng" trên vai những yếu tố truyền thống bằng lối suy nghĩ: gia đình là cái gốc của Nước, Nước là cái Nhà to, Nhà là cái Nước nhỏ. Với lối suy nghĩ như vậy, để dẫn tới một hiện tượng đặt lợi ích của Nhà trên lợi ích của Nước. Biểu hiện ở quan niệm một người làm quan cả họ được nhờ, tâm lý cục bộ, bè phái... Những biểu hiện này tránh sao khỏi hiện tượng tuỳ tiện, độc đoán bất chấp pháp luật. Tâm lý đó lại tìm được đất sống ở cơ chế "xin - cho" của nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, đó là: xin ở mọi cấp, cho ở mọi nơi. Và chính cơ chế "xin - cho" này đang làm hạn chế sự phát triển của mỗi cá nhân, là rào cản cho sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

Thứ ba, cần khẳng định rằng hoàn cảnh ảnh hưởng tới con người trong chừng mực con người cải tạo hoàn cảnh, song con người cũng không thể nào thoát ly khỏi hoàn cảnh. Với dân số trên 70% làm nông nghiệp và sống ở nông thôn thì họ ít nhiều chịu sự tác động của lối sống sản xuất nông nghiệp. Do đó tác phong công nghiệp dường như vẫn còn thiếu trong mỗi cá nhân. Hiện tượng làm việc được chăng, hay chớ, sáng cắp ô đi, tối cắp ô về, hiệu quả kinh tế ở các cơ quan công nghiệp của Nhà nước còn thấp không phải là chuyện hiếm. Còn đối với các xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ... tác phong công nghiệp của mỗi công nhân cũng chưa được đề cao. Hiện tượng tuỳ tiện trong công việc, coi thường kỷ cương, kỷ luật, làm việc ít tính tới hiệu quả đang dần làm cho khu vực doanh nghiệp mất đi tính cạnh tranh của mình trên thị trường quốc tế...

Trên đây là đôi nét phác thảo về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong lịch sử và sự "xung đột" giữa những giá trị "cũ” và "mới", trong sự biến đổi quan hệ giữa cá nhân và xã hội giai đoạn hiện nay. Bước vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong xu thế toàn cầu hoá (trước hết toàn cầu hoá kinh tế) ở một thế giới đầy rẫy biến động và đang được chi phối bởi một "siêu cường” theo cái gọi là quy luật "mạnh được, yếu thua" thì điều đầu tiên chúng ta cần là nhận diện được mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội để từ đó điều chỉnh, phát huy được yếu tố cá nhân. Phát huy được yếu tố cá nhân sẽ tạo ra một nội lực cho xã hội. Đây sẽ là yếu tố quyết định để Việt Nam tự khẳng định mình ở thế kỷ XXI. Để làm được điều đó, đương nhiên bên cạnh việc phát huy những giá trị tốt đẹp trong mỗi cá nhân như lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tính cộng đồng... thì mỗi con người Việt Nam còn cần phải bổ sung những giá trị của thời đại được thể hiện trong ba điều sau đây:

Thứ nhất, đầu óc thực tiễn, trọng hiệu quả, tinh thần kinh doanh. Nếu thiếu giá trị này con người Việt Nam sẽ khó có thể đứng vững trên thị trường mang tính toàn cầu.

Thứ hai, trọng "chữ tín". Trong nền kinh tế thị trường, vai trò "chữ tín" là tối quan trọng. Nếu như kinh doanh cũng như trong hợp tác mà "chữ tín" bị xem nhẹ thì đương nhiên việc tổn hại về kinh tế là khó tránh khỏi. Điều này lý giải vì sao các doanh nhân Trung Hoa thường thành công trên thương trường, bởi vì người Trung Hoa rất coi trọng chữ tín trong kinh doanh. Đối với người Hoa, vi phạm chữ tín, không tôn trọng điều kết ước là một điều đáng lên án nhất, còn hớn cả tội ác hình sự khác.

Thứ ba, coi trọng pháp luật. Xã hội muốn trật tự kỷ cương cần có hệ thống luật pháp đủ mạnh và hợp lý. Con người việt Nam từ nền sản xuất tiểu nông bước ra kinh tế thị trường còn mang nặng lối hành xử theo thói quen. Do vậy, trong giai đoạn tới yếu tố luật pháp phải là ý thức thường trực trong mỗi cá nhân cũng như trong xử lý mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.

Theo Tạp chí Nghiên cứu con người

15 thg 8, 2007

NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI VIỆT NAM: MẤY VẤN ĐỀ NHẬN THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP


My vn đ đt ra trong vic nghiên cu con người Vit Nam hin nay

Có thể nói rằng từ lâu các học giả nước ta đã chú ý nghiên cứu con người và nhất là con người Việt Nam từ nhiều góc độ, lối nhìn mà càng về sau càng toàn diện và sâu sắc hơn. Kết quả đó cũng khá khả quan như một bước tiến dài trên con đường nghiên cứu nhiều mặt giúp cho độc giả có hiểu biết khá hệ thống ở tầm khoa học và triết học về con người nói chung và con người Việt Nam nói riêng.

Tác giả Nguyễn Văn Huyên đã tổng quan những nghiên cứu về con người như một cấu trúc sinh học - xã hội, vai trò lao động và xã hội đối vôi con người, bản chất xã hội của con người, con người văn hóa, con người họat động, con người là chủ thể sáng tạo, phát triển toàn diện, những nhân tố tác động hình thành con người, mới, những đặc điểm và hệ thống phẩm chất, giá trị của con người Việt Nam cả về phương diện khảo cổ, dân tộc học, lịch sử…

Tác giả đã chú ý chỉ ra những hạn chế trong nghiên cứu con người Việt Nam hiện nay và nhận xét rằng những nghiên cứu này thể hiện quan niệm giản đơn, nghèo nàn trong việc tiếp cận, mang tính suy luận nhiều hơn là điều tra thực tế, thực nghiệm. Theo tôi, không chỉ có vậy, hạn chế đáng nới nhất là ít có cách đặt vấn đề xây dựng một chuyên ngành khoa học chung về con người, ít có công trình liên ngành, cho nên vẫn tồn tại một cách nhìn tản mạn, chia cắt, thiếu sự liên kết hệ thông khoa học về con người như một khoa học tương đối độc lập.

Chính cách đặt vấn đề về triển vọng của chuyên ngành khoa học mới về con người (như chúng tôi có dịp đề cập) và sự xuất hiện Viện Nghiên cứu con người đã mang lại khả năng khắc phục những hạn chế trên đây. Điều này, có nghĩa là việc nghiên cứu con người Việt Nam phải được đặt trong một hệ thống khoa học liên ngành duy nhất - quy về một mối với cái nhìn toàn diện, toàn cục, tổng thể. Phương pháp luận khoa học chuyên ngành và liên ngành, tổng hợp, đã có sự kết dính hệ thống chỉnh thể. Có như thế mới tránh được "cha chung không ai khóc", "thấy cây mà không thấy rừng" (và thấy rừng mà không thấy cây), tránh được sai lầm "sờ voi" của các thầy bói mù.

Nghiên cứu thêm một số tư liệu khác khi nghiên cứu về con người Việt Nam ở góc nhìn tâm lý dân tộc hay ở góc nhìn văn hoá truyền thống thì thấy rằng chúng ta vẫn còn những hạn chế cụ thể bộc lộ một phương pháp nghiên cứu hoặc cách nhìn, quan niệm chưa hoàn toàn biện chứng và toàn diện.

Chẳng hạn, có nghiên cứu đã chỉ ra được một số giá trị tinh thần của người Việt, dù rằng kết quả có mặt sâu sắc, có mặt còn hạn chế, nhưng lại không chú ý hay không nghiên cứu các mặt thể chất người Việt, sinh thể người Việt, hoặc nghiên cứu mặt xã hội (tuyệt đối mặt xã hội) mà không nghiên cứu mặt tự nhiên, sinh . học và ngược lại (một số nghiên cứu trong ngành y học hoặc thể dục thể chất).

Một thời chúng ta phê phán quan niệm tuyệt đối hoá nghiên cứu mặt tự nhiên của con người lại chuyển sang cực đoan khác là chỉ nhấn mạnh mặt bản chất xã hội, tổng hoà các quan hệ xã hội. Nghiên cứu con người Việt Nam chỉ nghiên cứu mặt tinh thần mà ít nghiên cứu mặt thể chất. Hoặc nghiên cứu mặt đạo đức mà không nghiên cứu mặt trí tuệ, mặt duy lý, nghiên cứu mặt duy lý không chú ý mặt tình cảm, mặt ý thức và đặc biệt là quên nghiên cứu mặt vô thức, trực giác, tâm linh, thậm chí còn phủ nhận nó. Chúng ta đã có những công trình về đạo đức của con người Việt Nam nhưng thiếu công trình khoa học về tư duy, trí tuệ, nhất là về mặt tâm linh của con người Việt Nam. Những công trình về văn hoá tâm linh, hay có chiều sâu tâm linh, rất hiếm và chưa được đánh giá. Đó là chưa kể đã có lúc phủ nhận cái tâm linh, không nghiên cứu nó như một vấn đề khoa học.

Lại có xu hướng chỉ nhấn mạnh nghiên cứu con người tập thể, con người giai cấp, nghiên cứu vĩ nhân, không có chương trình nghiên cứu các tài năng, phát triển năng khiếu hoặc ít nghiên cứu con người cá nhân, coi nhẹ cá nhân, coi cá nhân là vấn đề riêng tư, nêu vấn đề chống "chủ nghĩa cá nhân" nhưng lại không phân tích rõ nội hàm của nó chủ yếu là chống chủ nghĩa vị kỷ, ích kỷ nên không ít khi coi nhẹ cá nhân, lợi ích, năng lực cá nhân. Trong thời kỳ mới, chủ nghĩa xã hội về bản chất, xét đến cùng là giải phóng cá nhân con người. Vậy mà chúng ta phê phán mật hạn chế của tính cộng đồng nhưng vẫn không mạnh dạn đề cao con người cá nhân. Hoặc khi nghiên cứu con người giai cấp, con người dân tộc, chúng ta ít nghiên cứu con người nhân loại con người tộc loại.

Hoặc nghiên cứu con người văn hoá lại coi nhẹ con người kinh tế, con người kỹ thuật, hay nghiên cứu con người kỹ thuật lại coi nhẹ con người đạo đức, con người tâm linh. Hoặc có khi lại quá đề cao vai trò của tâm linh, đạo đức tôn giáo (Phật giáo) trong não trạng người Việt. Hoặc nghiên cứu con người tách rời hoàn cảnh mà quên cái nội lực, đến di truyền, cả di truyền văn hoá và di truyền sinh học....

Hoặc chỉ nhấn mạnh con người có ý thức, nghiên cứu mặt tình cảm, mặt trí tuệ mà ít chú ý con người nhu cầu, con người lợi ích, tức các khía cạnh nhu cẩu và lợi ích của con người, mà thoát ly mặt này thì ý thức tư tưởng chỉ còn treo lơ lửng ở trên không. Khi sang thời kỳ hoà bình, phát triển kinh tế, chúng ta chú ý hơn đến nghiên cứu mặt nhu cầu, lợi ích của con người, trước hết ở mặt vật chất thì lại có biểu hiện coi nhẹ mặt tinh thần. Nghiên cứu sâu nhu cầu của con người là một trong những vấn đề có tầm triết học (chứ không chỉ ở góc độ khoa học tâm lý) và qua đó chúng ta mới biết đầy đủ hơn những động lực và khuynh hướng phát triển của con người.

Hoặc nghiên cứu con người truyền thống, đề cao giỏi bắt chước, thông minh, giỏi chế biến, tiếp biến, dung hoà nhưng lại không nghiên cứu sâu khả năng sáng tạo và mức độ sáng tạo của con người Việt Nam, đánh giá không đúng khả năng sáng tạo của người Việt Nam. Vấn đề tính sáng tạo của người Việt Nam gần đây đã có người chú ý nghiên cứu như Trần Bạch Đằng với bài viết về năng động sáng tạo ở Bình Dương, cũng có người tìm hiểu tính năng động sáng tạo nói chung của người Việt phương Nam có những nét khá sâu nhưng nhìn chung các nghiên cứu hiện nay chỉ mới điểm qua vài nét tình hình. Theo tôi, cần có chuyên đề nghiên cứu sâu về tính sáng tạo của người Việt Nam từ lịch sử đến hiện đại (chúng tôi đã có bài viết về "Vấn đề phát huy năng lực tư duy của con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" trong hội thảo khoa học về Văn hoá, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá - TP. Hồ Chí Minh tháng 7/2002). PGS, TS. Nguyễn Văn Huyên, trong công trình "Mấy vấn đề triết học xã hội và phát triển con người" (Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) đã xem xét họat động sáng tạo của con người và con người sáng tạo từ các tiền đề tâm lý, xã hội, dân chủ chính trị, văn học nghệ thuật. Nhưng ở đây tác giả mới phân tích ở cấp độ con người nói chung còn ở cấp độ cụ thể con người Việt Nam với những năng lục sáng tạo của nó như thế nào thì lại chưa được phân tích thành chuyên đề.

Hoặc trong công tác nghiên cứu khoa học cũng như trên diễn đàn, có nhiều lúc người ta chỉ nhấn mạnh mặt tất, ưu việt của người Việt Nam (như tinh thần yêu nước, đoàn kết, cần cù, thông minh, yêu đời) mà lờ đi, ít đề cập tới mặt yếu kém, bất cập, và tính xấu của con người Việt Nam. Chúng ta cũng đã có một số bài viết về tư duy và đổi mới tư duy, ở đó các tác giả đã nghiên cứu sâu hơn thực trạng lạc hậu, mặt hạn chế của con người Việt Nam như tư duy lý luận còn dấu ấn tiền khoa học, kinh nghiệm chủ nghĩa, thiếu logic chặt chẽ, ít có phát minh, sáng chế, tính tiểu nông, manh mún còn nặng... Nhưng vẫn còn rất cần nghiên cứu toàn diện và sâu hơn nữa những mặt hạn chế của con người Việt Nam trong truyền thống và hiện tại. Quả là chúng ta đang thiếu một công trình như thế. Nhưng nếu lại tuyệt đối hoá mặt xấu, yếu kém của con người Việt Nam thì thực trạng nhận thức về con người cũng sai lầm không kém.

Đúng là mỗi cách nhấn mạnh hay tạm tách rời để nghiên cứu sâu là có hạt nhân chân lý nhất định của nó nhưng khi quá nhấn mạnh, coi nhẹ những mặt khác thì có thể trở thành phi lý.

Tóm lại, trong nghiên cứu về con người Việt Nam, có lúc chúng ta thường hay nhấn mạnh một mặt, cực đoan, chưa thoát khỏi tư duy kinh nghiệm nên dễ dẫn đến nhìn nhận con người Việt Nam truyền thống và hiện đại có phần lệch lạc, tính thuyết phục khoa học chưa cao.

Vấn đế là phương pháp luận và phương pháp

Việc nghiên cứu con người Việt Nam lúc này, lúc khác có những hạn chế như vậy là do hoàn cảnh và yêu cầu thực tế từng lúc đã khiến chúng ta chú ý nhiều hơn về mặt này hay mặt khác. Song có một nguyên nhân rất quan trọng là trong quan niệm và phương pháp luận có những biểu hiện giản đơn, siêu hình, máy móc như đã nói.

Về mặt nghiên cứu bản tính người Việt (bản tính tộc người Việt) như có nhà nghiên cứu nhận xét là "chưa có cơ sở lý luận và phương pháp luận nào thật rõ ràng". "Hầu hết những bàn luận về vấn đề này đều dựa vào quan sát và suy nghĩ theo lối kinh nghiệm phải chăng chúng ta coi việc xác lập phương pháp luận cụ thể cũng như việc nghiên cứu bản tính con người Việt Nam đã hoàn chỉnh, hay hoàn chỉnh về cơ bản hoặc đã được nói và viết nhiều rồi? Phải chăng chúng ta mới đang vượt qua đoạn đầu, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ? Nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên lĩnh vực này thấy còn rất mới mẻ và có nhiều trăn trở.

Những nhận thức và quan niệm không đúng bộc lộ trong thực tế nghiên cứu và quan niệm nghiên cứu con người có nguồn gốc ở mặt phương pháp luận. Đề cao nghiên cứu cụ thể, riêng biệt (nguyên lý con người bộ phận) là cần để khám phá, đi sâu nhưng không thể coi nhẹ các vấn đề phương pháp luận biện chứng (nguyên lý con người tổng thể), hoặc ngược lại. Tại sao như vậy?

Như đã nói ở trên, do hiểu biết hạn chế về chủ nghĩa Mác - Lênin, hơn nữa lại chịu ảnh hưởng của các tư tưởng nho giáo và chủ nghĩa kinh nghiệm mang tính tư duy tiền khoa học nên trong vận dụng phương pháp luận mác xít nghiên cứu con người chúng ta đã rất phiến diện và đơn giản.

Có thể ghi nhận là trong thời gian gần đây, các công trình của GS.VS. Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001), của PGS, TS. Nguyễn Văn Huyên, "Mấy vấn đề triết học xã hội và phát triển con người" (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) là những công trình có giá trị định hướng phương pháp luận cụ thể về nghiên cứu con người ở nước ta. Chúng ta phải biết thay đổi cách tiếp cận, tránh cách tiếp cận cũ kém hiệu quả. Phải nhìn nhận từ nhiều góc độ, bổ sung những phương pháp khoa học mới, chẳng hạn như phương pháp nhân học của các nước nói tiếng Anh, phương pháp do các chỉ số thông minh, cảm xúc... của con người, phương pháp điều tra xã hội học về các giá trị của con người...

Nghiên cứu cụ thể cả định tính và nhất là định lượng là rất cần, vì nếu không như thế thì khó thuyết phục và khó thành chủ trương chính sách phát triển. Nhưng cũng rất cần nghiên cứu ở tầng bản chất phổ quát, ở tầng lý luận triết học, nhất là về mặt phương pháp luận, nguyên tắc chung về phương pháp luận và phải biến phương pháp luận thành phương pháp thể hiện trong nghiên cứu từng mặt riêng biệt của vấn đề.

Trước hết phải thấy nguyên nhân của vấn đề là ở cách tiếp cận thiếu cái nhìn con người tổng thể theo chiều sâu, tổng thể biện chứng, nên hay cực đoan, chỉ thấy một mặt. Cách tiếp cận này có nguyên nhân trong tư duy kinh nghiệm, cảm tính, thiển cận theo diễn biến của thực tiễn từng lúc nên thiếu tầm nhìn xa, lại có biểu hiện giáo điều, ít sáng tạo đột phá, đi sâu, ít quan tâm xây dựng tầm nhìn mới khoa học, nhất là khoa học về con người. Tư duy này thường xem kinh điển có nói không, nước ngoài có ai nói không? Tư duy một dòng, một chiều như thế dễ phụ thuộc một chiều vào chính trị, đó là tư duy đồng nhất với chính trị thục tiễn.

Phải làm sao để phương pháp luận nghiên cứu con người mang tính khoa học thật sự, theo tư duy hiện đại, tư duy mạng lưới, tư duy phức hợp chứ không phải chỉ là tư duy hệ thống thứ bậc. Mặt khác cũng cần tiếp thu những nhân tố hợp lý trong tư duy triết học phương Đông về vấn đề con người như tư tưởng coi con người là "tiểu vũ trụ”, nguyên lý cứu con người tổng thể (không chỉ trong y học mà cả trong xã hội) trong chính nó và trong vũ trụ Thiên, Địa, Nhân hợp nhất, hoặc con người nằm trong hệ thống văn hoá Việt nhà, làng, nước (gắn với hệ thống hiện nay là cá nhân, tập thể, xã hội, hay giai cấp, dân tộc, nhân loại), chẳng hạn. Chúng ta còn phải nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc và cả Mỹ về phát huy trí tuệ và thu hút trí tuệ của dân tộc vào sự nghiệp phát triển đất nước. Các khoa học về con người ở đây được nghiên cứu và phát triển có tác dụng gì đối vôi phát triển đất nước.

Nghiên cứu con người Việt Nam, muốn cụ thể phải tiếp cận ở tầm nhân học cụ thể chuyên ngành. Trong nhân học, với cái nhìn toàn diện, theo tôi hiểu, không chỉ xem xét con người từ một mặt nào mà là cả từ nhân chủng, từ sinh vật và sinh thể, từ kinh tế, văn hoá, chính trị, đạo đức, từ tâm lý, tâm linh hay tư tưởng, phong tục, có lẽ phải nhìn đầy đủ các góc độ và cấp độ của con người cả bề rộng, lịch đại và đồng đại Trong khi đó, đây là một ngành học mà gần đây chúng ta mới bắt đầu chú ý tới, còn trước đây chỉ xem xét ở góc độ dân tộc học. Vì thế chủ yếu cần nhanh chóng xây dựng và hoàn chỉnh ngành Nhân học Việt Nam với hệ thống các thủ pháp nghiên cứu. Hầu như việc nghiên cứu theo phương pháp khảo sát bản chất và đặc tính toàn diện của con người của nhân học ở nước ta chưa có hệ thống. Điều đó chứng tỏ rằng không thể dừng lại ở một phương pháp luận trong dân tộc học. Chỉ có nhân học mới quy tụ được nhiều góc độ để nghiên cứu sâu và cụ thể hơn về con người Việt Nam. Do vậy, cần đẩy mạnh nghiên cứu thực nghiệm, khảo sát, thu thập các chỉ số vốn có và các chỉ số phát triển con người Việt Nam (không chỉ là chỉ số thông minh, năng lực tư duy logic mà cả chỉ số cảm xúc EQ, chỉ số sáng tạo CQ và nhiều chỉ số khác về thể chất và tinh thần nhưng hiện nay chỉ mới đánh giá được IQ). Chẳng hạn, qua điều tra chỉ số trí tuệ của học viên mới nhập thể trường trong đào tạo cán bộ chính trị nơi cấp phân đội của tác giả Trương Quang Học, có thể thấy rằng học viên có chỉ số thông minh hoặc rất thông minh nhưng học lực chỉ trung bình khá, ngược lại có học viên chỉ số thông minh trung bình trở xuống nhưng lại học khá, vì việc học còn phụ thuộc vào hứng thú, sự cần cù chăm chỉ, động cơ, phương pháp.... chúng ta còn chưa chú ý đo đếm các loại chỉ số này. Đó là không kể rằng sự phát triển trí tuệ của con người còn do tác động lớn của môi trường giáo dục chứ không chỉ ở các chỉ số tự nhiên bẩm sinh

Một điều tra xã hội học về giá trị thế giới trong quan niệm sống của người Việt Nam gần đây đã cho chúng ta nhiều điều thú vị, bớt đi suy luận và phỏng đoán mơ hồ. Nhìn chung, đây đang là một thiếu sót, một mặt yếu nhất trong các khoa học nghiên cứu con người ở nước ta hiện nay. Nghiên cứu lý thuyết là cần nhưng không nên dừng lại lý thuyết mà phải hướng mạnh về thực nghiệm để có sự đo lường và trắc nghiệm cụ thể về con người Việt Nam. Nếu không đi sâu về mặt này thì khoa học con người và phát triển con người ít có kết quả khả quan và không đi xa được.

Nhưng càng đi vào nghiên cứu cụ thể lại càng phải chú ý nghiên cứu liên ngành. Về phương pháp này, chúng ta vẫn chưa mạnh làm. Hướng chung là nghiên cứu con người tổng thể, bằng phương pháp luận liên ngành như một ngành nghiên cứu về con người cả cấp độ chung, tổng quát mang tính triết học và cấp độ cụ thể của các khoa học cụ thể nhất là tâm lý học, nhân học, xã hội học..

Tức là ở đây có ba cấp độ như:

1. Cấp độ triết học về con người (chủ nghĩa duy vật nhân văn)

2. Cấp độ một khoa học tổng quát về con người như nhân học chẳng hạn

3. Cấp độ liên ngành các ngành khoa học nghiên cứu cụ thể có liên quan tới con người.

Trong tất cả các phương pháp đó cần chú ý phương pháp luận tích hợp của triết học.

Ở đây, do vậy không chỉ cần xây dựng một khoa học chung về con người mà cả một triết học về con người (chủ nghĩa duy vật nhân văn). Đúng là. triết học Mác không vắng bóng con người mà là một cách tiếp cận mới, toàn diện và hiện thực về con người, nhưng từ đó không nên hiểu trong triết học Mác đã có một triết học hoàn chỉnh về con người. Thực ra triết học Mác chủ yếu là triết học xã hội lịch sử, còn triết học về con người chưa được hoàn thiện rõ ràng, như có người nhận xét: "Mác thuộc thế hệ sau của cách mạng Pháp, quan niệm triết học của ông là thuộc về lịch sử chứ không phải triết học về con người, đây là điều rất đáng suy nghĩ, phải chăng hiện nay cần một triết học về con người như chúng tôi đã nêu là vừa cũ, vừa mới?

Phải mạnh dạn đổi mới nhận thức về khoa học con người, cần xây dựng một hệ thống chuyên ngành nghiên cứu trực tiếp về con người, tiếp cận sớm những phương pháp nghiên cứu tiên tiến để nâng cao hiệu quả nghiên cứu. Cần nhiều phương pháp và công trình khảo sát nghiên cứu con người Việt Nam tập trung vào đối tượng thực tê' đang sống và họat động chứ không phải từ sách vở. Vì chính như Mác đã nói, họat động của con người như thế nào thì chính họ như vậy.

Cn nhn thc đúng xu hướng ch đo hin nay trong vic nghiên cu con người Vit Nam

Trước hết phải nghiên cứu con người và văn hoá Việt từ chiều sâu cội nguồn có lịch sử văn minh khoảng gần 5000 năm trước chứ không phải là 4000 năm. Điều này xác định chính xác hơn bản sắc người Việt khác Hán và ngang Hán với truyền thống lâu đời trên cả bình diện tư duy, tư tưởng, tâm thức, đạo lý và lối sống...

Chúng ta vẫn thiếu những nghiên cứu phân tích tiền đề kinh tế xã hội, tộc người dẫn đến hình thành những phẩm chất ưu và khuyết của con người Việt Nam trong lịch sử. Đã có thời nghiên cứu khá nhiều về việc xây dựng con người mới nhưng lại xa rời nền tảng lịch sử của con người Việt Nam truyền thống.

Tại sao lại không có một công trình lớn về con người Việt Nam truyền thống, để từ đó cho ta một chân dung cụ thể và toàn diện? Dù đã có các thành quả nghiên cứu con người từ nhiều ngành khoa học mang lại nhưng cuối cùng vẫn cần một sự tổng hợp như thế. Cơ quan chịu trách nhiệm đó hoặc là Viện Triết học hoặc Viện nghiên cứu Con người ở nước ta, hay tốt nhất là có sự phối hợp hai Viện làm hạt nhân cho sự cộng tác rộng hơn. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu con người nói chung và con người Việt Nam nói riêng, theo tác giả Nguyễn Văn Huyên (Sđd, tr.272), cần được xem xét ở ba góc độ:

Con người với tư cách là sản phẩm của lịch sử tự nhiên (khía cạnh bản thể).

Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo lịch sử (động lực và tiềm năng phát triển xã hội).

Con người văn hoá - con người với tư cách là mục đích của mình.

Tôi nhất trí với cách tiếp cận toàn diện ba mặt đó, nhưng có lẽ vẫn thiếu một cái gì đó khá cơ bản. Nên tôi cho rằng phải nhìn nhận cả phương diện thứ tư là:

"Con người như một quá trình tự phát triển thông qua mâu thuẫn với nhiều trình độ và giai đoạn khác nhau (tính giai đoạn, tính cụ thể lịch sử của con người như là tự nó và vì nó trong tiến trình tự giải phóng khỏi tha hoá và tự phát triển).

Về con người là sản phẩm của tiến hoá tự nhiên và xã hội, vừa qua các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu và phác thảo được chân dung con người Việt Nam dựa vào suy luận và kinh nghiệm, nhưng lại thiếu các chỉ số từ khoa học thực nghiệm cụ thể về con người nên nhìn chung chân dung ấy còn nghèo nàn.

Về con người là chủ thể sáng tạo lịch sử thì tuy có nghiên cứu nhưng ít kết quả mới, ít khám phá về tiềm năng và năng lực thể chất và tinh thần của con người Việt Nam, nhất là các chỉ số phát triển người cụ thể của con người Việt Nam, những tiềm năng và động lục phát triển về mặt vật chất, thể chất, tinh thần không chỉ trí tuệ mà cả tâm lý, cảm xúc cũng còn nhiều hạn chế trong nghiên cứu.

Về con người là con người văn hóa toàn vẹn trong nghiên cứu cũng có những ưu điểm và hạn chế tương tự (xem: Nguyễn Văn Huyên, Sđd, tr.272 - 277).

Con người với tư cách là một quá trình tự phát triển nhiều giai đoạn cũng đã được nghiên cứu nhưng chưa rõ tính lịch sử tiến hoá từng thời đại lịch sử, cũng như sự chuyển đổi trong từng giai đoạn bước ngoặt. Đây là một lát cắt có ý nghĩa, nhất là đối với việc nghiên cứu con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Cần nghiên cứu phát triển con người sáng tạo hiện nay đang được ưu tiên như thế nào và phải như thế nào? Con người Việt Nam hiện nay liệu có kịp thời thích nghi với bối cảnh toàn cầu hoá hay không, cần và có thể phát huy, xây dựng nhung phẩm chất nào? Tức là nghiên cứu cả những khả năng vẫn có của con người Việt Nam và những tiền đề kinh tế - xã hội hiện đại đang đòi hỏi phát huy những tiềm năng ấy cùng những phẩm chất mới được tạo nên trong sự tổng hoà cái truyền thống và cái hiện đại.

Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực Việt Nam trước thách thức của thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập quốc tế là một hướng nghiên cứu lớn hiện nay. Chúng ta hy vọng chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước do GS,VS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm sẽ mang lại nhiều kết quả khả quan.

Chúng ta nghiên cứu khá nhiều về con người Việt Nam trong kháng chiến nhưng trong xây dựng kinh tế và văn hoá thì còn quá ít công trình có hệ thống. Nhiều câu hỏi đặt ra là tại sao trong kháng chiến thì con người Việt Nam phát huy khá cao năng lực và phẩm chất của mình nhưng trong xây dụng kinh tế, văn hóa thì lại thiếu cộng tác hay kém sáng tạo, phát minh... hoặc tiềm năng sáng tạo thì khá nhưng hành vi sáng tạo (khác thường) thì ở mức trung bình. Con người Việt Nam ta hình như bằng lòng với cái đã có (an phận thủ thường) mà ít mạo hiểm trong sáng tạo, ít giám đột phá, chỉ nặng về "vận dụng sáng tạo"? tại sao trong chính trị, quân sụ và y học thì có nhiều cống hiến sáng tạo nhưng trong kinh tế và khoa học thì hầu như vắng bóng?

Hoặc khi chuyển từ thời chiến sang thời kỳ xây dựng kinh tế tại sao con người lại tha hoá với tốc độ nhanh đến thế chúng ta cần có những hướng nghiên cứu như chuyên đề phong cách tư duy người Việt, đặc tính tâm lý dân tộc, triết lý, tư tưởng triết học của con người Việt, lối sống và đạo lý... hoặc nghiên cứu sâu những khả năng, những tiềm năng thể chất và tinh thần (kể cả những khả năng huyền diệu), nghiên cứu cả con người hữu hình và con người vô hình của người Việt Nam, cả những hạn chế khiếm khuyết, "những thói hư tật xấu” (Trần Quốc Vượng) của người Việt Nam trong cộng đồng nhiều tộc người. Vấn đề cấp bách bây giờ là nghiên cứu các phẩm chất nghề nghiệp, nghiên cứu việc nâng cao chất lượng nghề, xây dựng đội ngũ công nhân và cán bộ chất lượng cao, trong đó nòng cốt là lực lượng tài năng. Đó cũng là đội ngũ phải có bản lĩnh thật sự, bản lĩnh chính trị, bản lĩnh khoa học, bản lĩnh kinh doanh, bản lĩnh nghề nghiệp nói chung có thể thích nghi và thành công trong bối cảnh thế giới ngày nay.

Nghiên cứu con người Việt Nam cần chú trọng nghiên cứu phát huy mặt tốt của con người, con đường và giải pháp xây dựng con người văn hoá, phát triển toàn diện có năng lực chuyên môn, nghề nghiệp sâu. Nghiên cứu ấy được đặt trên phương hướng nghiên cứu con người từ nhu cầu, lợi ích đa dạng cho đến cách thức, phương thức thoả mãn nhu cầu theo những giá trị nhân văn của thời đại. Đúng như mới đây, nhân ngày Nhà giáo 20/11/2002, GS, TS. Nguyễn Cảnh Toàn đã có nhận xét rất đúng là năng lực tư duy của con người Việt Nam là niềm hy vọng để chúng ta đuổi kịp các nước phát triển. Vậy chúng ta phải có cái gì sáng tạo độc đáo của Việt Nam mà nhờ đó chúng ta vượt lên, bứt phá lên? Cái đó vẫn phải bắt đầu từ trí tuệ con người Việt Nam ngày nay, trước hết là từ cá nhân và sau đó là cộng đồng. Nói sức mạnh đại đoàn kết dân tộc thì cái dẫn đường, nhân sức mạnh và chất xám chủ yếu là nói trí tuệ trong sức mạnh chung đó. Điều đó càng bức thiết trong thời ký khoa học công nghệ cao. Như thế là chúng ta cần nghiên cứu sâu và hệ thống thực tế năng lực tư duy và trí tuệ con người Việt Nam. ở đó không chỉ làm rõ thực trạng, tiềm năng và cả hạn chế về năng lực tư duy, trí tuệ mà còn phải làm rõ cái gì đang kìm hãm năng lực tư duy và trí tuệ của con người Việt Nam? Đâu là giải pháp đột phá? Thực tế đang đòi hỏi một công trình như thế cả về lý thuyết và thục nghiệm. Các kết quả điều tra của thế giới gần đây chứng minh con người Việt Nam (qua học sinh, sinh viên) "được đánh giá cao về tiềm năng Toán - Tin học và Y học", có trí thông minh IQ không thua kém các nước khác (khảo sát 420 học sinh chuyên toán thì có 80% em có chỉ số IQ là trên 110' chỉ số xuất sắc) nhưng trí sáng tạo thì sao? Chúng ta đã tập trung cho hướng cơ bản, gốc gác, có ý nghĩa chiến lược sống còn này chưa. Trong chương trình khoa học công nghệ 1995 - 2000 đã có nghiên cứu và hiện nay đang nghiên cứu các hệ thống giải pháp để phát huy trí tuệ, chuyển bị cho nguồn nhân lục và nhân tài đáp ứng yêu cầu mới của thời đại. Và theo GS. Trần Trọng Thuỷ cho biết, trong chương trình nghiên cứu sẽ do cả ba chỉ số IQ, EQ, CQ phát triển người đối với tuổi trẻ học đường ở nước ta. Đó là điều đáng mừng nhưng khoa học về con người ngày nay luôn phải chú ý phương pháp luận tổng thể, tích hợp trong nghiên cứu.

Nói chung, nghiên cứu con người Việt Nam ngày nay phải kết hợp phương pháp luận tổng thể và phương pháp luận phân tích bộ phận cụ thể, nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tế, thực nghiệm, nghiên cứu đinh tính với nghiên cứu định lượng, nghiên cứu nhân cách với nghiên cứu môi trường lịch sử, trong đó con người họat động và sáng tạo với những nhu cầu, lợi ích, giá trị cụ thể… mới mang lại kết quả.

Nghiên cứu đặc tính và tiềm năng của con người và các tộc người cả về tư duy, trí tuệ và khí phách trong truyền thống và hiện đại với sự chuyển biến của thời đại trên đất nước ta như thế vẫn là hướng nghiên cứu vừa trước mắt, vừa lâu dài, nhưng không thể theo lối mòn và chậm chân được nữa!

============================================

Hồ Bá Thâm
Tạp chí Nghiên cứu con người

MỘT CÁCH NGHĨ VỀ VĂN HÓA


Đã có một thời gian khá dài tồn tại cách nghĩ văn hóa như một thành qu ca quá trình lao đng sn xut. Vi quan nim đó, hưởng th văn hóa là s đãi ng cho nhng n lc ca con người trong lao đng. Trng cây có ngày hái qu, câu thành ng này nhm đng viên con người kiên nhn vượt qua khó khăn vì nhng điu tt đp đang ch phía trước. Hái qu đây được hiu theo nghĩa là s đn bù c v vt cht và tinh thn, có cơm no áo m, con cái được hc hành, đi được an nhàn, sung sướng. Cách tư duy tách ri văn hóa khi quá trình sáng to vt cht là li tư duy ca nn kinh tế tiu nông và h qu ca tình trng nghèo kh trin miên qua nhiu thế h. Sau mt năm làm lng vt v, tháng giêng là tháng ăn chơi, là tết nht, là mùa l hi... cho đến tháng ba li cày v rung ra theo cái qui trình bt biến đã nghìn năm nông v chí kỳ.

Cách nghĩ như vy cũng đã từng ăn sâu trong đời sống văn hóa nước ta nhiều chục năm từ đầu tư, tổ chức, quản lý đến gắn kết sự phát triển kinh tế - xã hội với phát triển văn hóa. Biểu hiện rõ nét của điều đó là đầu tư cho văn hóa không ít năm luôn đứng cuối danh mục chỉ tiêu ngân sách của Nhà nước. Các mục tiêu về văn hóa luôn ở vị trí chót trong các báo cáo hàng năm, thậm chí chỉ được coi là phần phụ trong chương trình hành động của không ít tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể xã hội, địa phương. Phải chăng tình trạng xuống cấp trên nhiều lĩnh vực văn hóa có nguyên nhân từ đó.

nó có mối liên hệ qua lại với trình độ phát triển kinh tế và thường là hệ quả của trình độ phát triển kinh tế. Tuy vậy, văn hóa không phải là cái bóng thụ động của kinh tế. Lịch sử loài người chứng minh rằng có những nền văn minh trí tuệ rực rỡ đến nay vẫn làm chúng ta kinh ngạc và mơ ước được là người chủ sáng tạo ít ra là một phần nhỏ của nó lại được nảy sinh từ thời cổ đại khi con người còn sống chủ yếu bằng săn bắt, hái lượm, chưa từng biết đến động cơ đốt trong và máy vi tính. Cũng như vậy, nhiều kỳ quan của thế giới không phải được sáng tạo ở những quốc gia rộng lớn, đông dân, giàu có mà lại ở những quốc gia nhỏ bé, nghèo khổ thậm chí trên những hòn đảo gần như cô lập với thế giới bên ngoài. Có một nghịch lý nhưng khó chối bỏ đó là nhiều thời kỳ văn hóa rực rỡ lại được tạo dựng trên nền thực trạng xã hội rối ren, trì trệ, mục nát. Nền kiến trúc Trung cổ, nền hội hoạ thời Phục hưng ở châu âu, thời kỳ chói sáng của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII minh chứng cho điều đó. Ngược lại, không nhất thiết sự phát triển kinh tế luôn đồng hành với sự phát triển của văn hóa. Thể thao là một lĩnh vực của văn hóa. Trong nhiều kỳ Wold Cup, không ít nước giàu có, đông dân hàng đầu thế giới mơ ước có được hình ảnh của mình tương tự các nước nghèo như Mêhicô, Braxin, Camơrun, Nigiêria mà thôi. Ngay như nước ta, 20 năm đổi mới là quá trình thay da đổi thịt thần kỳ ai cũng nhận thấy. Từ một quốc gia kiệt quệ sau 30 năm chiến tranh, khủng hoảng triền miên, người dân thiếu ăn, thiếu mặc chỉ trong một thời gian ngắn trở thành một nước xuất khẩu gạo, thủy sản, dầu mỏ, than đá, giày dép, quần áo có sức cạnh tranh với nhiều nước lớn, một nước được thế giới thừa nhận về tốc độ tăng trưởng cao, xoá đời giảm nghèo nhanh, an ninh kinh tế tốt vào loại nhất khu vực. Nhưng có hiện tượng trong khi đời sống vật chất của người dân được nâng cao thì một số mặt trong đời sống văn hóa lại suy giảm. Chưa bao giờ trong hơn nửa thế kỷ qua, chúng ta phải lo lắng đến thế về tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống, về các tệ nạn xã hội gia tăng, về môi trường văn hóa bị xâm hại, về tinh hoa văn hóa truyền thông bị đe dọa trước ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài và cả từ bên trong.

Giải thích về điều đó, có lẽ trước hết nên bắt đầu từ nguyên nhân cách nghĩ của chúng ta về văn hóa còn đơn giản và lạc hậu. Đã không ít thập kỷ, văn hóa được hiểu là thành quả của lao động sản xuất của cải vật chất, không gắn gì với quá trình lao động sản xuất ấy. Văn hóa là quả, lao động sản xuất là việc trồng cây. Người trồng cây đổ mồ hôi sôi nước mắt cực nhọc cho ngày hái quả, tức là ngày hưởng thụ. Văn hóa đồng nghĩa với việc hưởng thụ, thậm chí là sự hưởng thụ không thiết yếu như ăn, mặc, ở, đi lại, đôi khi còn được hiểu là "cờ hoa loa đài", “loa đèn kèn trống", "ăn chơi nhảy múa". Bởi thế việc văn hóa bị coi nhẹ, người làm văn hóa ít được tôn trọng trong một xã hội cái ăn, cái mặc là nỗi lo thường trực. Thực ra, văn hóa là cái còn lại sau những gì đã mất. Văn hóa là những giá trị vật chất đã thăng hoa vào đời sống tinh thần. Một công cụ ghè đẽo bằng đá đối với người tiền sử chỉ có giá trị như một công cụ lao động nhưng sau hàng vạn năm, những cục đá thô sơ đó khiến ta xúc động vì chúng giúp ta hình dung ra cuộc sống của tổ tiên. Một bức tranh sở dĩ đẹp vì nó cho ta biết cái gì đang diễn ra trong tâm hồn hoạ sĩ và qua đó, mở thêm một cánh cửa cho ta nhìn thấu tâm hồn mình. Bởi vậy,văn hóa luôn gắn chặt với mọi hoạt động vật chất nhưng nó không chỉ là cái đạt được mà còn là khởi nguyên mọi hoạt động của con người, trong sản xuất của cải vật chất cũng như trong quá trình sáng tạo văn hóa. Văn hóa là nền tảng của sự phát triển.

Thật dễ dàng nhận ra điều đó trong mọi lĩnh vực của đời sống đương đại. Trình độ học vấn của một người chỉ mới phản ánh quá trình tích luỹ và hình thành trình độ văn hóa của người đó.Vô số những tích luỹ như thế bằng nhiều con đường khác nhau, được nhào nặn như con ong nhào nặn phấn hoa và mật hoa từ hàng vạn bông hoa sẽ tạo nên trong mỗi con người bề dày văn hóa của riêng họ và chính bề dày văn hóa này là nền móng, là định hướng, là động lực chi phối mọi hành động của từng con người cụ thể, từ đó rộng ra là với từng cộng đồng người, từng dân tộc. Nếu hiểu như vậy, văn hóa đóng vai trò quyết định con đường phát triển của xã hội, quyết định năng lực và hiệu quả của quản lý, quyết định năng suất và chất lượng lao động của mỗi người. Ngày nay, đã khó hình dung hoạt động của một doanh nghiệp chẳng hạn, lại không có sự tham gia của những thành tựu tin học. Cũng thật khó hình dung sẽ có một nền kinh tế hiện đại hóa nếu những người lao động vẫn giữ nguyên cách suy nghĩ, tác phong lao động, ý thức kỷ luật của một nền sản xuất nhỏ tự cấp tự túc. Cũng cần nhấn lại rằng sự phát triển văn hóa không chồng khít với sự phát triển kinh tế. Trên thế giới, nhiều người đã lên tiếng báo động về tình trạng nghèo khổ đời sống tinh thần, tóm lại là tình trạng nghèo khổ về văn hóa ở ngay những nước phát triển. Sự nghèo khổ, tha hóa về văn hóa ấy cũng đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở các nước đang phát triển như Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi". Thấm thía ý nghĩa sâu sắc và đầy minh triết của câu nói này, đưa phát triển văn hóa trở thành quốc sách hàng đầu, lấy văn hóa làm nền đường, làm đầu kéo cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phải chăng đó là quy trình thuận trong các quyết sách vĩ mô của đất nước ta hiện nay.

==============================================

Vũ Duy Thông
Tạp chí Văn hóa doanh nhân