Hiển thị các bài đăng có nhãn CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIỚI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIỚI. Hiển thị tất cả bài đăng

15 thg 7, 2009

TÁC ĐỘNG CỦA PHONG TỤC, TẬP QUÁN ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI – TỪ GÓC NHÌN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

TS. NGUYỄN THỊ BÁO - Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ là mục tiêu thứ 3 trong các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ đang được nước ta nỗ lực thực hiện. Bên cạnh những kết quả rất đáng ghi nhận, chúng ta đang phải tiếp tục khắc phục những định kiến trọng nam, xem thường nữ, xuất phát từ quan niệm phong kiến, lạc hậu vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận người dân, trên con đường chinh phục mục tiêu này.

Là một nước phong kiến, nửa thuộc địa, kinh tế kém phát triển, kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, chúng ta đã đi được một chặng đường dài trên con đường tiến tới thực hiện mục tiêu bình đẳng nam nữ: cách biệt về giới ở các cấp học sẽ được xóa bỏ trước năm 2015; phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở các ngành các cấp; cơ hội việc làm được mở ra cho cả nam và nữ; lao động nữ đã có nhiếu đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; phụ nữ được tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận các nguồn lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, góp phần giảm nghèo và nâng cao vị thế của người phụ nữ; phụ nữ ngày càng được thụ hưởng bình đẳng với nam giới trong các dịch vụ công về y tế, văn hóa, xã hội...

Để nâng cao các quyền về kinh tế cho nữ giới, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Sửa đổi đất đai năm 2003, trong đó có ghi rõ tất cả các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất đều phải được cấp bao gồm tên của cả vợ và chồng.

Các giấy tờ về quyền sử dụng đất giúp bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người phụ nữ đối với tài sản đất đai đó.

Những giấy tờ này cũng giúp nữ giới có thể vay vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng nhằm bảo vệ quyền lợi hco phụ nữ trong trường hợp ly dị và phân chia tài sản.

2 thg 4, 2009

KHI CON NGƯỜI TRỞ THÀNH HÀNG HÓA

A.D

Theo công bố mới nhất từ Bộ Công An, VN hiện là địa bàn của các hoạt động đưa người di cư, xuất khẩu lao động trá hình cũng như nhiều đường dây mua bán phụ nữ, trẻ em, tế bào thai, nội tạng ra nước ngoài. Tính riêng 6 tháng đầu năm 2008 đã có 193 vụ xảy ra, với hơn 430 phụ nữ, trẻ em bị buôn bán. Như vậy, trung bình mỗi ngày, có ít nhất 2 phụ nữ, trẻ em bị những kẻ buôn người biến thành hàng hoá.

Gần 50% nạn nhân là người mù chữ

Từ năm 2005 đến nay, cả nước phát hiện gần 1.100 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em với 1.980 đối tượng tham gia, lừa bán 2.800 phụ nữ trẻ em. Tuy nhiên, đây mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm vì tình hình phụ nữ trẻ em bỏ nhà đi khỏi địa phương không rõ lý do, nghi bị buôn bán ngày càng gia tăng.
Theo Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ LĐTBXH), có gần 50% phụ nữ, trẻ em bị bán qua biên giới không biết chữ, gần 40% mới học xong bậc tiểu học và 88% nạn nhân đều thuộc diện gia đình khó khăn.
Buôn bán phụ nữ, trẻ em diễn ra ở bốn tuyến rõ rệt: hai tuyến đầu diễn ra ở khu vực biên giới VN - Trung Quốc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng... chiếm 70% tổng số vụ trên toàn quốc) và biên giới VN - Campuchia (An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Hậu Giang...); tuyến thứ ba buôn bán quốc tế tới các địa điểm như Macau, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc và tuyến cuối cùng buôn bán trong đất liền, xuyên qua Campuchia và Lào đến Thái Lan và Malaysia.
Hoạt động buôn bán phụ nữ, trẻ em không chỉ diễn ra bằng đường bộ. Các tổ chức tội phạm trong nước và quốc tế còn hợp pháp hoá hoạt động qua việc tổ chức cho nạn nhân đi du lịch, hợp tác lao động... bằng đường hàng không và đường biển, sau đó đưa họ sang Hàn Quốc, Australia, Mỹ, Malaysia, Đài Loan... để ép buộc bán dâm.

Nam giới cũng là... hàng hoá

Cùng với sự bùng nổ rầm rộ về số lượng các vụ buôn người thì tính phức tạp của nó cũng ngày một tăng lên. Không chỉ phụ nữ bị buôn bán để làm nô lệ tình dục hay làm vợ, ngay cả nam giới cũng bị lừa bán để khai thác sức lao động và bán nội tạng, như vụ 6 nam thanh niên bị lừa bán sang Trung Quốc để bóc lột lao động mới đây tại Lào Cai và Hải Dương.
Theo Tổ chức Chương trình quốc tế của Liên Hợp Quốc về nạn buôn người ở khu vực hạ Mê Kông (UNIAP), buôn bán người là loại tội phạm diễn ra rất tinh vi và phức tạp. Đây là một vấn nạn lớn nhưng cũng là một vấn nạn được che giấu, vì thế khó nói được con số chính xác (các vụ án và bị can). Hình thức buôn bán người ở mỗi nơi một khác. Ở chỗ này là buôn bán phụ nữ và trẻ em để làm mại dâm, ở chỗ kia là để làm lao công trong các nhà máy, trong lĩnh vực nông nghiệp, chỗ khác lại bắt buộc trẻ em đi ăn xin hoặc làm con mồi cho dịch vụ kết hôn.

Bán từ người quen đến... người thân

Theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS),  những thủ phạm buôn người có thể chính là người thân, bạn bè hoặc người cùng làng xã của các nạn nhân. Chính vì vậy, chúng có thể dễ dàng chiếm được lòng tin của các nạn nhân khi lừa phỉnh đưa họ đi thành phố, hoặc sang biên giới kiếm việc làm, nhưng thực chất là bán họ làm hàng hoá.
Một nạn nhân sau khi được trở về nhà cho biết đã đồng ý theo một người phụ nữ sang Trung Quốc tìm việc, vì "cô ta biết cả gia đình em". "Cô ấy đã có chồng, có con và chơi với cả các anh trai của em. Em không thể tưởng tượng được rằng cô ta dám bán em, trong lúc biết rõ rằng các anh của em rất ghê gớm" - cô gái mới 16 tuổi cho hay.
Mức giá mà những kẻ buôn người nhận được thường từ 5-7 triệu đồng cho một phụ nữ. Tuy nhiên, mức giá đó có thể cao hơn nhiều, nếu đó là những cô gái xinh xắn. Theo nghiên cứu của ILO, đàn ông Trung Quốc thường trả từ 7.000-8.000 Nhân dân tệ cho một cô dâu Việt "ưa nhìn". Nếu cô gái không xinh, giá sẽ giảm xuống còn 3.000-4.000 ND tệ.
Ông Paul Buckley - quan chức UNIAP - nhấn mạnh tình trạng buôn bán người trên thế giới và trong khu vực cũng đang là vấn nạn phức tạp và nhức nhối của các nước. Lợi nhuận của việc buôn bán người mỗi năm lên đến 31 tỉ USD. Bọn tội phạm này còn liên quan chặt chẽ đến tội phạm buôn bán vũ khí và ma tuý.
Ông Paul cho rằng, để phòng chống buôn bán người đạt được hiệu quả cao, Chính phủ các nước sở tại phải hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, nâng cao đời sống cho người dân, đặc biệt là những phụ nữ, trẻ em gái ở vùng nông thôn nghèo cần phải được trang bị kiến thức pháp luật, xã hội, và phải có nghề nghiệp ổn định.

Vương quốc Anh lo ngại nạn buôn người dịp Olympic

Vấn nạn buôn người kéo theo nó là nô lệ tình dục đang làm đau đầu các nhà chức trách Anh. Bộ Nội vụ nước này đặc biệt lo ngại Olympic London 2012 sẽ là thỏi nam châm đối với những kẻ buôn người bán cho các nhà thổ và lao động bất hợp pháp.
Chắc chắn có rất nhiều người tìm kiếm công ăn việc làm khi Olympic diễn ra ở London. Và nhân dịp này, những kẻ buôn người tội phạm sẽ cố gắng khai thác thêm nguồn hàng.
Bộ Nội vụ Anh lên kế hoạch chống các băng nhóm bắt cóc phụ nữ làm nô lệ tình dục và buộc đàn ông làm lao động cưỡng bức. Bộ Nội vụ Anh còn yêu cầu các nhóm chuyên phát hiện bọn buôn người canh gác tại các sân bay và bến cảng.
Ngoài ra Anh còn lập một đường dây nóng tới cảnh sát, nhân viên nhập cư và nhân viên xã hội để nhận diện nạn nhân nhanh hơn. Theo ước tính của Bộ Nội vụ Anh, riêng năm 2003, 4.000 nạn nhân buôn người làm việc trong các nhà chứa Anh.

Ấn Độ: Cảnh sát cũng dính líu

Các nhà lãnh đạo nữ ở bang Assam, phía Tây Bắc Ấn Độ, cho biết nạn buôn bán phụ nữ ở bang này đã đạt tới "tỉ lệ nguy hiểm" trong những thập niên qua. "Ngày càng có nhiều phụ nữ bị bán để phục vụ cho ngành công nghiệp tình dục này. Họ bị lừa rằng sẽ có một công việc hái ra tiền hoặc là nạn nhân của những cuộc hôn nhân giả tạo", bà Sumitra Hazarika Gogoi - Uỷ viên cao cấp của Hội Phụ nữ bang Assam - cho biết.
Bà Gogoi còn tiết lộ, rất nhiều các quan chức cao cấp và cảnh sát trong bang cũng có dính líu tới những vụ buôn bán phụ nữ. Từ năm 2000 đến 2007, 413 người đã bị bắt trong 150 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em núp dưới bóng một tổ chức hoạt động chống lại nạn buôn người.
G Bhuiyan - trưởng phòng điều tra tội phạm bang Assam - cho biết: "Các tổ chức buôn người thường mở những trung tâm môi giới việc làm. Các cô gái nhẹ dạ sẽ nhận được lời hứa có công việc với thu nhập cao. Nhưng thực chất họ bị bán với giá từ 10.000 đến 30.000 rupi (tương đương từ 233USD đến 700USD) để làm người mẫu hoặc gái bar, sau đó, các cô bị đẩy vào hoạt động mại dâm" (Theo BBC)

"Công việc duy nhất mà chúng dành cho tôi là trong nhà thổ"

Tomissi là một người Nigeria nhút nhát, thông minh, 20 tuổi nhưng thực ra trông chỉ như mới 18. Cô đã bị một người bạn của mẹ cô lừa tới Turin, miền bắc Italia, vào năm ngoái với lời hứa để làm công việc trông trẻ. Nhưng kết cục, cô bị bán cho các chủ chứa làm nô lệ tình dục.
Nigeria là một trong những quốc gia là điểm nóng về nạn buôn người. Có rất nhiều cô gái đã bị dụ dỗ sang Italia, với những ước mơ về một công việc tốt để đổi đời. "Người ta nói có công ăn việc làm ở Turin, nhưng công việc duy nhất là trong nhà thổ. Họ chỉ lừa gạt những cô gái nhẹ dạ như tôi!" - Tomissi nói.
Theo ước tính, có chừng 20.000 gái mại dâm người Nigeria tại Italia. Hầu hết đều đến từ tiểu bang Edo ở miền nam Nigeria. "Các tú bà thường đánh đập tôi, nếu tôi không tiếp khách" - Tomissi nhớ lại. Trong một lần may mắn, Tomissi đã trốn thoát và may mắn gặp được một tổ chức thiện nguyện, những người đã giúp đỡ cô ổn định lại cuộc sống.

SOURCE: BÁO LAO ĐỘNG

Trích dẫn từ: http://www.baothuongmai.com.vn/Details/phap-luat/khi-con-nguoi-tro-thanh-hang-hoa/32/0/8876.star

3 thg 3, 2008

ĐỔI MỚI NỘI DUNG GIẢNG DẠY CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ TRONG MÔN LUẬT DÂN SỰ DƯỚI GÓC ĐỘ GIỚI

THS. Nguyễn Hồng Hải - Khoa Luật dân sự - Đại học Luật Hà Nội

I. Mục tiêu tổng quát:

Lồng ghép giới trong giảng dạy chế định thừa kế của môn Luật dân sự được dành cho đối tượng ngưòi học là sinh viên thuộc các hệ đào tạo bậc đại học của trường Đại học Luật Hà Nội (hệ chính qui, văn bằng hai, tại chức, chuyển cấp, trung cấp pháp lý) với mục tiêu tổng quát là:

Tng bước lng ghép gii trong xây dng Giáo trình, Giáo án, phương pháp ging dy v chế định tha kế hướng ti mc tiêuchung là tng bước thay đổi nhn thc và cách tiếp cn ca sinh viên khi nghiên cu các qui định pháp lut v tha kế dưới góc độ gii.

6 thg 1, 2008

VẤN ĐỀ GIỚI TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY MÔN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

THS. NGUYỄN THỊ LAN - KHOA LUẬT DÂN SỰ - ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

“Giới là một phạm trù chỉ vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và nữ giới. Nói đến mối quan hệ giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến hàng loạt vấn đề thuộc về thể chế xã hội...”.([1]) Trong xã hội hiện đại ngày nay, sự bất bình đẳng về giới vẫn tồn tại một cách dai dẳng, không chỉ ở các quốc gia kém phát triển mà ở cả những quốc gia phát triển. Sự bất bình đẳng này luôn được bắt nguồn từ những lí do về mặt xã hội. Xoá bỏ sự bất bình đẳng giới là một yêu cầu xã hội được các trào lưu tiến bộ xã hội hết sức coi trọng. Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy môn học Luật hôn nhân và gia đình, sự hiểu biết về giới, vận dụng kiến thức về giới trong chu trình đào tạo khép kín của môn học này là vô cùng cần thiết và bổ ích.

Trong mối liên hệ về giới thì môn học Luật hôn nhân và gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng. Hôn nhân và gia đình là vấn đề rất tế nhị nhưng cũng không kém phần phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học trong đó có luật học. Ngay từ khi xã hội loài người vừa mới hình thành thì vấn đề giới đã thể hiện rất rõ trong các tập đoàn người thời nguyên thuỷ. Đầu tiên, đó là sự thống trị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, rồi sau đó do sự thay đổi về các điều kiện kinh tế, ý thức xã hội, phong tục, tập quán, khi xuất hiện nhà nước thì địa vị của người đàn ông đã được thay đổi và thay vào đó là chế độ phụ quyền: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của giới phụ nữ”.([2]) Kể từ đó chế độ phụ quyền đã tồn tại một cách dai dẳng theo sự phát triển của xã hội loài người. Và “sự đối lập giai cấp đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trùng với sự phát triển của sự đối kháng giữa chồng và vợ, trong hôn nhân cá thể, sự áp bức đầu tiên là trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà... biểu lộ rõ ràng mâu thuẫn giữa người đàn ông với người đàn bà, kết quả thống trị độc nhất của chồng là một hình ảnh thu nhỏ của những mặt đối lập và những mâu thuẫn trong đó, từ đầu thời kì văn minh, xã hội chia thành giai cấp vẫn vận động mà không thể nào giải quyết được...”.([3]) Như vậy, sự bất bình đẳng giới đầu tiên chính là từ gia đình, trong gia đình mà gia đình lại là tế bào của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội. Một xã hội đạt được sự bình đẳng giới thì trước tiên trong mỗi gia đình các thành viên phải được bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ. Mục tiêu này, dưới góc độ pháp lí, sẽ phụ thuộc vào sự tuyên truyền những kiến thức pháp luật nói chung và pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng. Nhìn từ góc độ giới, môn học Luật hôn nhân và gia đình có thể được coi là một trong những môn học tiên phong của quá trình đưa những nội dung về giới vào chương trình nghiên cứu và đào tạo luật.

Môn học luật hôn nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định đã được các nhà quản lí nhìn nhận, có vị trí quan trọng bên cạnh những môn học khác, đây là một trong những môn học truyền thống của chương trình đào tạo luật ở tất cả các cơ sở đào tạo luật của Việt Nam. Tại Trường Đại học Luật Hà Nội, trước đây, môn học luật hôn nhân và gia đình thuộc Khoa tư pháp, trực thuộc bộ môn luật dân sự gồm ba phân môn là luật dân sự, luật tố tụng dân sự và luật hôn nhân và gia đình. Sau đó, trong quá trình phát triển, chuyên môn hóa thì môn học này đã được tách thành một bộ môn riêng. Trong môn học này, đối với hệ đào tạo chính quy thì ngoài chương trình cơ bản còn có ba chuyên đề trong đó chuyên đề “chế định tài sản của vợ chồng” (30 tiết, chương trình bắt buộc) và hai chuyên đề “thủ tục nhận nuôi con nuôi theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” (20 tiết) và “pháp luật hôn nhân và gia đình của một số nước trên thế giới (20 tiết, chương trình tự chọn). Đặc biệt, là một trong những môn thi tốt nghiệp, tương đối thường xuyên đối với các lớp trung cấp luật - đối tượng chủ yếu là những cán bộ tư pháp ở các xã, phường, vùng sâu, vùng xa... nơi mà hàng ngày họ phải giải quyết rất nhiều các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình. Như vậy, có thể thấy rằng việc nghiên cứu môn học này ngày càng mang tính chất chuyên sâu, đảm bảo chất lượng dạy và học. Xét dưới góc độ giới, đây cũng là cách nhìn mới đối với tầm quan trọng của môn học này. Mặt khác, nhìn từ góc độ người học, hầu hết sinh viên (gồm sinh viên hệ chính quy và hệ tại chức) rất hứng thú với môn học này. Bởi môn học này gắn liền với cuộc sống của mỗi con người, đặc biệt đối với học viên hệ tại chức, họ có thể là những cán bộ thực thi pháp luật, bảo vệ pháp luật, hàng ngày phải giải quyết rất nhiều các vụ việc liên quan đến yếu tố giới, những vụ việc về hôn nhân và gia đình… Việc nghiên cứu và giảng dạy môn học này không chỉ cung cấp cho người học những kiến thức chuyên ngành luật mà còn giúp cho người học ý thức được trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình và xã hội, xoá bỏ những định kiến giới truyền thống và dần hình thành những chuẩn mực hành vi trên cơ sở bình đẳng giới.

Các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình luôn mang đậm màu sắc giới. Vì vậy, trong chương trình giảng dạy môn học luật hôn nhân và gia đình có rất nhiều nội dung có thể khai thác dưới góc độ giới.

Thứ nhất, hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam trong đó có nguyên tắc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình, đây là nguyên tắc nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc văn hoá tốt đẹp của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình. Ở nguyên tắc này, có thể đề cập rất nhiều các phong tục tập quán của các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số, nơi mà những kiến thức về giới không được biết đến hoặc chỉ là những khái niệm rất mơ hồ. Việc đi sâu nghiên cứu và tìm ra phương pháp tiếp cận vấn đề để thiết kế bài giảng gắn liền giữa phong tục tập quán với kiến thức về giới sẽ làm cho bài giảng sinh động và cuốn hút người học hơn. Hiện nay, pháp luật hôn nhân và gia đình đã dành sự quan tâm đặc biệt đến các phong tục, tập quán có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống hôn nhân và gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó ghi nhận những phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện đậm đà bản sắc dân tộc của từng vùng, từng dân tộc, thể hiện sự bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình. Bên cạnh đó cũng đề cập những tập tục lạc hậu cần thiết phải xóa bỏ…

Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; nguyên tắc vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con; nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ. Đây là những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Việc khai thác khía cạnh về giới trong các nguyên tắc này là hoàn toàn phù hợp. Sự phát triển của những nguyên tắc này trong suốt quá trình lịch sử đã thể hiện rất rõ sự nhận thức về giới. Việc lồng ghép những kiến thức về giới vào từng nguyên tắc sẽ giúp cho người học có tầm nhìn bao quát hơn về các vấn đề cơ bản của luật hôn nhân và gia đình và tiếp cận vấn đề dễ dàng hơn. Nghiên cứu dưới góc độ giới sẽ làm cho các nguyên tắc này không còn khô cứng mà đầy sức thuyết phục và hấp dẫn.

Thứ hai, các chế định cụ thể của luật hôn nhân và gia đình có thể khai thác được dưới góc độ giới như chế định kết hôn, li hôn, quan hệ pháp luật giữa vợ chồng, xác định cha, mẹ, con, nuôi con nuôi...

Chế định kết hôn có thể đi sâu vào một vấn đề rất nhạy cảm đó là tự nguyện trong việc kết hôn, điều này thể hiện rất rõ quan điểm giới. Đặc biệt có thể khai thác yếu tố tự nguyện trong thực tiễn khi tình trạng kết hôn với người nước ngoài gia tăng đột biến trong thập niên vừa qua, hàng năm có rất nhiều phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài mà chủ yếu là các công dân Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, trong đó, nguyên nhân chủ yếu của việc kết hôn này là vì mục đích kinh tế. Khi nhìn từ góc độ giới, người học sẽ thấy rõ hơn mục đích không lành mạnh của sự tự nguyện kết hôn này.

Chế định li hôn có một vấn đề khá thú vị và phù hợp nếu lồng những nội dung về giới vào quá trình nghiên cứu và giảng dạy. Đó là trường hợp hạn chế quyền yêu cầu li hôn của người chồng khi người vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi. Thực chất của vấn đề sẽ được mổ xẻ, giúp người học hiểu sâu sắc vấn đề và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt. Ngoài ra, chế định li hôn còn rất nhiều những nội dung mà có thể khai thác được dưới góc độ giới như các nguyên nhân li hôn, căn cứ li hôn, các trường hợp li hôn và hậu quả pháp lí của li hôn. Những vấn đề này có thể kết hợp với thực tiễn xét xử để thấy được một bức tranh toàn cảnh của gia đình khi không nhận thức được đầy đủ trách nhiệm về giới.

Đối với quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng, đây là một nội dung trọng điểm, mang đậm màu sắc giới khi nghiên cứu trên hai khía cạnh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau và đối với những chủ thể khác như đối với con, cha mẹ... Những nội dung này sẽ giúp cho người học một cái nhìn toàn diện về sự bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng trong gia đình cùng sự so sánh với tình trạng vi phạm quyền bình đẳng giới trên thực tế.

Trong chế định xác định cha, mẹ, con có thể đặc biệt quan tâm đến vấn đề thể hiện rất rõ kiến thức về giới đó là thiên chức của mỗi chủ thể, xuất phát từ sự khác nhau về giới tính. Trong đó tập trung khai thác quyền làm mẹ, bao gồm quyền mang thai và sinh con. Sự hiểu biết về giới trong trường hợp này là vô cùng cần thiết vì điều đó sẽ giúp nguời học hiểu sâu sắc hơn về những căn cứ, những cơ sở khoa học và thực tế của việc xác định cha, mẹ, con. Khi nghiên cứu lồng ghép vấn đề giới trong trường hợp này người học còn hiểu được những quy định của pháp luật về xác định cha, mẹ, con còn thấm đẫm tình người, mang đậm nét nhân văn sâu sắc.

Ở mỗi nội dung trên có thể lồng ghép những kiến thức về giới và khai thác triệt để dưới góc độ giới. Làm được điều này sẽ tạo nên một bức tranh sinh động về vấn đề giới trong các quan hệ hôn nhân và gia đình, giúp cho người học nhận thức một cách sâu sắc các vấn đề về hôn nhân và gia đình, từ đó tìm ra những vấn đề còn hạn chế thiếu cơ sở về giới và có hướng hoàn thiện mới. Nên chăng trong chương trình nghiên cứu và giảng dạy môn học luật hôn nhân và gia đình cần có thêm một chuyên đề “Pháp luật hôn nhân và gia đình với vấn đề giới”.

Mặt khác, để sinh viên hiểu một cách toàn diện hơn vấn đề hôn nhân và gia đình dưới góc độ giới, khi Luật về bình đẳng giới được Quốc hội thông qua, bộ môn luật hôn nhân và gia đình nên có thêm một môn giảng mới về Luật bình đẳng giới. Đây là môn học tiên quyết trước khi sinh viên bước vào nghiên cứu luật hôn nhân và gia đình và các chuyên đề chuyên sâu.

Như chúng ta đã biết, sự nhận thức về giới, về quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể trong gia đình ở các vùng, miền là khác nhau. Trong thực tế tình trạng bất bình đẳng giới xảy ra phổ biến ở khắp nơi, đặc biệt là ở miền núi, nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Nguyên nhân chủ yếu là do sự hạn chế về trình độ nhận thức, cộng thêm vào đó là những phong tục, tập quán lạc hậu tồn tại như là một thuộc tính cố hữu trong các mối quan hệ ở làng xã Việt Nam. Một thực tế minh chứng cho sự bất bình đẳng về giới nữa là bạo lực trong gia đình và một trong những hậu quả của nó là dẫn tới gia đình tan vỡ. Theo con số thống kê các vụ việc về hôn nhân và gia đình trong 5 năm trở lại đây thì li hôn chiếm tỉ lệ cao nhất.

Dưới đây là số liệu thống kê giải quyết các vụ việc li hôn theo thủ tục sơ thẩm:

Nguyên nhân ly hôn 2000 2001 2002 2003 2004 2005

Mâu thuẫn gia đình, bị đánh đập, ngược đãi

29280*

92**

29120*

134**

17408*

1288**

31317*

1331**

 

37254***

 

39730***

Ngoại tình

2590*

24**

2954*

28**

 

3672*

127**

2997*

138**

3660***

4188***

Bệnh tật, không có con

658*

2**

2**

 

200*

103**

 

516*

42**

876***

 

805***

Do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

       

1039***

 

2930***

Một bên ở nước ngoài

1216**

2307**

554**

 

1*

1232**

1476***

 

1294***

Một bên là người nước ngoài đã về nước

13*

108**  

191*

57**

2*

13**

41*

77**

   

Một bên bị mất tích

1184*

13**

1339*

229**

3108*

152**

1500*

23**

1439***

 

868***

Mâu thuẫn về kinh tế

1318*

4**

1355*

3**

3129*

41**

2118*

6**

2661***

3134***

Sắc tài, địa vị, tuổi tác

2**

 

269*

1**

2**

286*

16931***

 

Một bên bị xử lí hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự

27**

 

 

706*

8**

1571*

7**

392*

19**

 

 

 

Có vợ lẽ

116*

5**

654*

3**

2349*

51**

615*

33**

   

Tảo hôn

251*

4**

101*

2**

9*

57*

2**

   

Cưỡng bức kết hôn

58*

4*

6**

1*

18*

   

Các nguyên nhân khác

12031*

924**

14245*

116**

19471*

440**

15410*

537**

 

12638***

Tổng

47699*

2421** 

 

50938*

2896**

50920*

2778**

57786*

3430**

65336***

65587***

(Nguồn: Toà án nhân dân tối cao)

Ghi chú: *. Cấp huyện

**. Cấp tỉnh

***. Cả cấp huyện và cấp tỉnh

Qua bảng số liệu trên có thể thấy rằng Các vụ việc li hôn ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong ba năm trở lại đây. Các nguyên nhân dẫn đến việc li hôn rất đa dạng và hầu hết các nguyên nhân đó đều liên quan tới vấn đề giới. Đặc biệt là một số nguyên nhân như ngược đãi, hành hạ, có vợ lẽ, ngoại tình, người nước ngoài đã bỏ về nước, nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc. Trong đó nổi bật là li hôn do bị ngược đãi, hành hạ, chiếm tới khoảng 60% tổng số vụ việc li hôn trong từng năm. Điều đó nói lên vấn đề bất bình đẳng về giới trong gia đình vẫn còn rất phổ biến, sự bất bình đẳng đó không chỉ ảnh hưởng tới bản thân các chủ thể trong quan hệ vợ chồng mà còn cực kì nguy hiểm cho con trẻ, để lại những vết hằn khó phai mờ trong những tâm hồn non nớt của chúng, ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách của cả một thế hệ.

Hiện nay, môn học luật hôn nhân và gia đình là một trong những nội dung chính, mang tính chủ đạo trong các chương trình tuyên truyền kiến thức pháp luật về giới của một số các tổ chức phi chính phủ tới cộng đồng dân cư nhằm nâng cao sự hiểu biết về giới, xoá bỏ sự bất bình đẳng giới trong gia đình và cộng đồng, đặc biệt là bảo vệ quyền của phụ nữ.

Với những cơ sở lí luận và thực tiễn như trên, chúng tôi thiết nghĩ nên chăng xây dựng một khoá học ngắn hạn với chủ đề “Pháp luật hôn nhân và gia đình trên cơ sở bình đẳng giới” tới các đơn vị hành chính nhỏ nhất và đối tượng tham gia là đông đảo các thành phần xã hội, đặc biệt là nam giới, vì hiện nay nạn nhân chủ yếu của định kiến giới, bất bình đẳng giới là phụ nữ. Nếu thành phần tham gia những khoá học, những buổi tham luận, toạ đàm về giới hoặc liên quan đến giới mà thành phần chỉ toàn là phụ nữ hoặc chủ yếu là phụ nữ thì ngay trong khoá học, buổi tham luận đó đã thể hiện sự bất bình đẳng giới và hiệu quả chỉ còn là một nửa nếu không muốn nói là vô nghĩa.

Tóm lại, trong quá trình hội nhập quốc tế, vấn đề giới là vấn đề khá nhạy cảm đã và đang được sự quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong lĩnh vực đào tạo luật nói chung và nghiên cứu, giảng dạy môn học luật hôn nhân và gia đình nói riêng cần được khai thác, mở rộng hướng nghiên cứu và giảng dạy mới từ góc độ giới. Đó chính là sự sáng tạo mới, một động thái tích cực không chỉ có tác động đến đối tượng người học mà còn làm cho cán bộ, giáo viên nâng cao hơn trách nhiệm của mình đối với chuyên môn và các công tác khác, chủ động, sáng tạo, tự tin để cống hiến cho sự nghiệp trồng người./.


([1]).Xem: Uỷ ban quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam - Dự án VIE 01-015-01 “Giới trong chính sách công” (2004), Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách.

([2]).Xem: C. Mác - Ph. Ăngghen (tuyển tập VI) (1984), Nxb. Sự thật, H, tr. 95.

([3]).Xem: C.Mác - Ph. Ăngghen (tuyển tập VI) (1984), Nxb. Sự thật, H, tr. 106, 109.

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 3/2007

3 thg 1, 2008

MỘT SỐ QUI ĐỊNH VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG VÀ QUYỀN CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG THEO LUẬT QUAN HỆ LAO ĐỘNG BANG NEWSOUTHWARE NĂM 1996 - AUSTRALIA

Quy chế lao động và Hợp Đồng Xí Nghiệp

Uỷ Ban Quan Hệ Lao Động (Industrial Relations Commission) Tiểu Bang NSW có thể lập quy chế lao động và chuẩn y hợp đồng xí nghiệp quy định điều kiện làm việc cho nhân viên làm việc trong từng ngành.

Luật Quan Hệ Lao Động NSW 1996 (NSW Industrial Relations Act 1996) (gọi tắt là " Luật ") quy định điều kiện nhân dụng ở Tiểu Bang NSW bằng cách giao cho Uỷ Ban Quan Hệ Lao Động NSW (gọi tắt là "Uỷ Ban") nhiệm vụ lập quy chế lao động và chuẩn y hợp đồng xí nghiệp quy định điều kiện làm việc cho nhân viên làm việc trong từng ngành.

Quy chế lao động là gì?

Quy chế lao động định rõ những quyền lợi và trách nhiệm của chủ nhân và nhân viên của mỗi ngành. Có nhiều loại quy chế lao động khác nhau, áp dụng cho những ngành nghề khác nhau.

Quy chế lao động định điều kiện làm việc, như số giờ làm việc, mức lương, mức lương ngoài giờ, lương phụ trội (loading), phụ cấp, ngày nghỉ, chế độ bảo vệ chỗ làm, và việc làm bán thời hay bất thường.

Lập quy chế lao động NSW như thế nào?

Uỷ Ban lập quy chế lao động tiểu bang áp dụng ở NSW ("NSW awards" [quy chế lao động NSW]). Thường thường, Uỷ Ban lập quy chế lao động khi những tổ chức đại diện các chủ nhân ("employer organisations") hoặc nhân viên ("unions", [công đoàn]) yêu cầu Uỷ Ban lập quy chế lao động. Uỷ Ban cũng có thể lập quy chế lao động để giải quyết tranh chấp lao động.

Quy chế lao động NSW áp dụng cho những ai?

Quy chế lao động NSW áp dụng cho tất cả chủ nhân và nhân viên trong ngành nghề thuộc quy chế lao động đó, dù có góp phần vào việc lập quy chế lao động hay không. Quy chế lao động NSW nào cũng có một điều khoản nêu rõ ngành hay nghề mà quy chế lao động áp dụng.

Luật buộc chủ nhân phải trưng phó bản của tất cả những Quy chế lao động NSW liên quan ở nơi làm việc.

Còn quy chế lao động liên bang thì sao?

Quy chế lao động liên bang áp dụng cho một số nhân viên làm việc ở NSW. Có khi cả quy chế lao động liên bang lẫn quy chế lao động NSW áp dụng cho cùng một nơi làm, nhưng áp dụng cho những loại nhân viên khác nhau.

Điều kiện làm việc ghi trong quy chế lao động NSW áp dụng cho tất cả nhân viên làm việc trong ngành nghề thuộc quy chế lao động đó, trừ khi những nhân viên hưởng quy chế lao động liên bang.

Quy chế lao động liên bang nêu rõ loại nhân viên mà quy chế lao động đó áp dụng, và cũng ghi rõ những chủ nhân nào được áp dụng quy chế lao động liên bang (hoặc cho từng chủ nhân, hoặc cho từng tổ chức mà chủ nhân đó là thành viên).

Muốn có chi tiết về quy chế lao động liên bang, xin liên lạc Federal Department of Workplace Relations (Bộ Quan Hệ Lao Động và Doanh Nghiệp Nhỏ Liên Bang), số 1300 363 264.

Hợp đồng xí nghiệp là gì?

Hợp đồng xí nghiệp cũng quy định quyền lợi và trách nhiệm của chủ nhân và nhân viên trong từng loại việc cụ thể trong xí nghiệp.

Chủ nhân và nhân viên hoặc công đoàn thay mặt nhân viên ("the parties", các bên) có thể thương lượng để lập hợp đồng xí nghiệp.

Trong trường hợp có dị biệt, những điều khoản của một hợp đồng xí nghiệp có giá trị ưu tiên so với những điều khoản của quy chế lao động. Một hợp đồng xí nghiệp có thể liên quan tới một phần hay toàn bộ điều kiện làm việc áp dụng cho những nhân viên liên hệ.

Tuy nhiên, hợp đồng xí nghiệp phải tuân theo tất cả luật của NSW quy định quyền lợi và trách nhiệm về việc làm, như quyền được nghỉ nuôi con, nghỉ hàng năm, và nghỉ thâm niên.

Bất cứ hợp đồng xí nghiệp nào cũng phải lập thành văn bản và có chữ ký của các bên hay đại diện. Hợp đồng phải ghi tên các bên, và phải nêu rõ những nhân viên đối tượng của hợp đồng.

Thông thuờng, mọi hợp đồng xí nghiệp phải có hiệu lực trong khoảng thời gian nhất định từ một tới ba năm. Tuy nhiên, hợp đồng xí nghiệp tiếp tục có hiệu lực sau khoảng thời gian đó, trừ khi bị huỷ bỏ.

Hợp đồng xí nghiệp được chuẩn y như thế nào?

Có thể làm đơn nộp cho Văn Phòng Đăng Ký (Industrial Registrar) của Uỷ Ban xin chuẩn y hợp đồng. Hợp đồng xí nghiệp chỉ có hiệu lực sau khi được Uỷ Ban chuẩn y.

Khi nào Uỷ Ban chuẩn y một hợp đồng xí nghiệp?

Khi quyết định chuẩn y, Uỷ Ban phải đảm bảo là:

  • hợp đồng tuân theo tất cả những quy định của luật pháp;
  • nhìn chung, hợp đồng không làm cho nhân viên bị thiệt;
  • các bên hiểu rõ ảnh hưởng của hợp đồng;
  • các bên không bị cưỡng ép ký hợp đồng; và
  • hợp đồng không bất công loại trừ một số nhân viên nào đó.

Nhân viên có phải ký hợp đồng xí nghiệp không?

Không ai bị ép buộc ký hợp đồng xí nghiệp. Tuy nhiên, khi những nhân viên liên quan đã bỏ phiếu kín chấp thuận một hợp đồng, thì sau khi Uỷ Ban chuẩn y, hợp đồng cũng áp dụng cho cả những nhân viên đã không bỏ phiếu tán thành.

Tương tự, khi một nhân viên mới nhận chỗ làm ở một chủ nhân đã có hợp đồng xí nghiệp, thì sẽ được hưỏng hợp đồng đó trong những phần mà hợp đồng áo dụng cho công việc của mình.

Tuy nhiên, chủ nhân phải thông báo cho nhân viên mới được biết về hợp đồng đó và phải cung cấp cho nhân viên mới một bản tóm tắt hợp đồng.

Nghỉ nuôi con

Luật Quan Hệ Lao Động 1996 (Industrial Relations Act 1996) quy định chế độ tối thiểu để cho nhân viên hưởng nghỉ mẹ sinh con, cha nuôi con và nghỉ nuôi con nuôi.

Nghỉ nuôi con

Luật Quan Hệ Lao Động 1996 (Industrial Relations Act 1996) quy định ngày nghỉ tối tiểu cho nhân viên nghỉ nuôi con. Luật, quy chế lao động và hợp đồng làm việc có thể để nhân viên nghỉ nhiều hơn.

Nghỉ nuôi con là gì?

Nghỉ nuôi con là chế độ được nghỉ không lương, trừ khi quy chế lao động hay hợp đồng quy định khác. Nhân viên có thể nghỉ nuôi con dưới hình thức:

  • mẹ nghỉ, khi nhân viên có thai hoặc sinh con;
  • cha nghỉ khi vợ sinh con;
  • nghỉ khi nhận trẻ dưới 5 tuổi làm con nuôi.

Nhân viên không cần phải có hôn thú mới được nghỉ nuôi con.

Ai được hưởng nghỉ nuôi con?

Nhân viên nam nữ đều có thể được nghỉ nuôi con. Nhân viên toàn thời, bán thời hoặc bất thường được nghỉ nuôi con sau khi làm liên tục với chủ nhân của mình ít nhất 12 tháng.

Nhân viên sẽ được nghỉ nuôi con sau khi làm việc đều đặn và theo hệ thống với chủ nhân của mình ít nhất 12 tháng, và có hy vọng là tiếp tục đươc làm. Những người làm việc tạm thời khác và những người làm theo mùa không được nghỉ nuôi con.

Sau khi làm với một chủ nhân 12 tháng, thông thường nhân viên được nghỉ nuôi con mỗi lần có con.

Nhân viên được nghỉ nuôi con bao lâu?

Nhân viên được nghỉ tối đa 52 tuần lễ. Có thể nghỉ theo những cách sau đây:

  • mẹ nghỉ: một thời gian nghỉ liên tục trong lúc có thai hoặc sau khi sinh con;
  • cha nghỉ : một thời gian nghỉ liên tục nhiều nhất là một tuần lễ bắt đầu khi con ra đời (cha nghỉ ngắn ngày) và một thời gian nghỉ liên tục nữa để làm người săn sóc chính cho con (cha nghỉ dài ngày); hoặc
  • nghỉ nuôi con nuôi: một thời gian nghỉ liên tục nhiều nhất là ba tuần lễ bắt đầu khi nhận con nuôi (nghỉ ngắn ngày) một thời gian nghỉ liên tục nữa để làm người săn sóc chính cho con (nghỉ dài ngày).

Tất cả các hình thức nghỉ nuôi con phải chấm dứt trước sinh nhật thứ nhất của con hoặc ngày nhận con nuôi được một năm.

Nhân viên và vợ/chồng nhân viên không được nghỉ nuôi con cùng một lúc, trừ khi một trong hai người đang ở trong thời gian "nghỉ nuôi con ngắn ngày" hoặc "nghỉ nuôi con nuôi ngắn ngày".

Có thể bắt buộc nhân viên nghỉ nuôi con không?

Không.

Chủ nhân phải cho nhân viên biết những gì?

Khi biết nhân viên hay vợ/chồng nhân viên có thai hoặc sắp nhận con nuôi, chủ nhân phải cho nhân viên biết quyền nghỉ nuôi con và nhân viên có trách nhiệm báo cho chủ nhân ý định nghỉ của mình.

Nhân viên phải báo trước bao lâu?

Nhân viên phải:

  • thông báo ý định nghỉ bằng thư ít nhất mười tuần lễ trước ngày dự định bắt đầu nghỉ; và
  • thông báo bằng thư ngày muốn bắt đầu và chấm dứt nghỉ ít nhất bốn tuần lễ trước ngày bắt đầu nghỉ nuôi con (14 ngày trong trường hợp nghỉ nuôi con nuôi).

Trước khi nghỉ, nhân viên phải đưa giấy bác sĩ chứng nhận có thai và ngày sinh dự đoán hoặc thư báo của cơ quan chuẩn nhận con nuôi có ghi ngày nhận con nuôi.

Trước khi bắt đầu nghỉ sinh con hoặc nghỉ nuôi con dài ngày, nhân viên phải trình:

  • tờ khai danh dự ghi xin nghỉ nuôi con mà người vợ/chồng xin; và
  • tờ khai danh dự ghi nhân viên là người săn sóc chính của cháu bé (chỉ cần trong trường hợp nghỉ nuôi con dài ngày và nghỉ nuôi con nuôi dài ngày).

Nhân viên có thể đổi ý về thời gian nghỉ không?

Nhân viên có thể kéo dài thời gian nghỉ nuôi con một lần mà không cần ưng thuận của chủ nhân, nếu báo trước ít nhất 14 ngày. Muốn kéo dài nữa, thì nhân viên và chủ nhân phải thoả thuận với nhau.

Có thể rút ngắn thời gian nghỉ nuôi con nuôi nếu nhân viên báo trước ít nhất 14 ngày và chủ nhân đồng ý.

Chủ nhân có thể yêu cầu nhân viên trở lại làm việc để giúp chủ nhân không?

Nếu chủ nhân yêu cầu, nhân viên có thể ngưng nghỉ nuôi con để trở lại làm việc toàn thời, bán thời hay tạm thời. Tuy nhiên, nhân viên không bắt buộc phải theo lời yêu cầu của chủ nhân.

Nhân viên vẫn có quyền trở lại nghỉ nuôi con sau khi đã làm việc theo yêu cầu của chủ nhân. Tuy nhiên, nhân viên vẫn phải ngưng nghỉ nuôi con trước sinh nhật thứ nhất của con hoặc ngày nhận con nuôi được một năm.

Nhân viên nên yêu cầu chủ nhân ghi bằng văn thư thời gian ngưng nghỉ nuôi con để làm việc thoả thuận giữa hai bên.

Nhân viên đang nghỉ nuôi con có thể làm việc có lương không?

Chủ nhân có thể yêu cầu nhân viên không làm việc cho các chủ nhân khác khi đang nghỉ nuôi con, nếu việc làm đó mâu thuẫn với việc làm chính.

Nhân viên có được nghỉ đặc biệt vì đau ốm không?

Nếu đau ốm vì có thai trong lúc đang làm việc, nhân viên có quyền nghỉ sinh con không lương hay dùng ngày nghỉ bệnh có lương (hay dùng cả hai loại nghỉ). Phải có giấy bác sĩ.

Nếu sẩy thai, con chết hoặc không xin được con nuôi thì sao?

Nếu nhân viên chưa bắt đầu nghỉ nuôi con, thì sẽ không đựợc nghỉ nữa. Tuy nhiên, nhân viên phái nữ được hưởng "nghỉ sản phụ đặc biệt" trong một thời gian. Nếu đang nghỉ, nhân viên có thể viết thư yêu cầu chủ nhân cho trở lại làm việc. Chủ nhân phải để nhân viên trở lại làm việc trong vòng hai tuần lễ kể từ ngày nhận thư yêu cầu.

Nhân viên còn được hưởng chế độ nghỉ nào khác không?

Nhân viên có thể dùng ngày nghỉ hàng năm, nghỉ thâm niên thay cho (hay cùng với) nghỉ nuôi con. Thời gian tổng cộng của tất cả các loại nghỉ không được hơn 52 tuần lễ. Dùng ngày nghỉ bệnh khi đang nghỉ nuôi con thì không được trả lương, trừ khi chủ nhân đồng ý trả.

Nhân viên muốn nhận con nuôi được hưởng hai ngày nghỉ không lương để dự những buổi phỏng vấn bắt buộc liên quan tới việc nhận con nuôi.

Nếu nhân viên nghĩ là chỗ làm nguy hiểm thì sao?

Nếu việc đang làm nguy hiểm cho người mang thai hay nuôi con bằng sữa mẹ, chủ nhân phải điều chỉnh điều kiện hay giờ làm việc, hoặc chuyển nhân viên sang làm công việc thích hợp. Chỗ làm mới phải có chức vị và lương bổng tương tự. Bác sĩ của nhân viên phán đoán về những nguy hiểm đó.

Nếu không thể chuyển nhân viên, nhân viên phải được hưởng " nghỉ sản phụ đặc biệt ", theo yêu cầu của bác sĩ.

Nhân viên có quyền trở lại làm việc không?

Có. Nhân viên được quyền trở lại chỗ làm ngay trước khi nghỉ nuôi con. Nếu không còn chỗ làm đó, chủ nhân phải tìm cho nhân viên một chỗ làm tương đương về chức vị và lương bổng với chỗ làm trước.

Có thể sa thải nhân viên đang nghỉ nuôi con không?

Không. Sa thải nhân viên vì người ấy hay vợ/chồng nhân viên:

  • có thai hoặc xin nhận con nuôi;
  • sinh con hoặc nhận con nuôi: hoặc
  • xin hay đang nghỉ nuôi con là phạm luật.

Nhân viên cũng có thể nộp đơn khiếu nại sa thải bất công cho Uỷ Ban Quan Hệ Lao Động NSW (NSW Industrial Relations Commission).

Nghỉ nuôi con ảnh hương đến quyền lợi làm việc của nhân viên như thế nào?

Nghỉ nuôi con không làm gián đoạn thời gian thâm niên của nhân viên đối với chủ nhân. Tuy nhiên, thời gian nghỉ việc sẽ không đươc kể khi tính nghỉ thâm niên hay những loại nghỉ khác.

Phải giữ sổ sách về nghỉ nuôi con bao lâu?

Chủ nhân phải giữ sổ sách về nghỉ nuôi con ít nhất sáu năm.

Chủ nhân có được dùng nhân viên thay thế không?

Chủ nhân có thể dùng người thay thế trong thời gian nhân viên nghỉ nuôi con. Chủ nhân phải để người thay thế đó biết là việc làm chỉ có tính cách tạm thời và nhân viên đang nghỉ nuôi con sẽ trở lại chỗ làm.

Chủ nhân có được kỳ thị nhân viên nghỉ nuôi con không?

Không. Nếu cho là bị chủ nhân kỳ thị vì có thai hoặc muốn nghỉ nuôi con, nhân viên có thể khiếu nại kỳ thị với Hội Đồng Chống Ky Thị NSW (Anti-Discrimination Board of NSW) hoặc Uỷ Ban Quan Hệ Lao Động NSW (NSW Industrial Relations Commission).

Muốn biết thêm chi tiết

Tài liệu này chỉ tóm tắt một số điều khoản chọn lọc của Luật Quan Hệ Lao Động NSW 1996 (NSW Industrial Relations Act 1996). Muốn biết thêm chi tiết, xin liên lạc:

  • tổ chức chủ nhân hoặc công đoàn của Quý Vị, nếu Quý Vị là thành viên.
  • Văn Phòng Đăng Ký của Uỷ Ban Quan Hệ Lao Động (Industrial Registry)
    50 Phillip Street, Sydney, 2000
    Điện thoại (02) 9258 0866
    Website: http://www.lawlink.nsw.gov.au/
  • Bộ Quan Hệ Lao Động NSW (NSW Office of Industrial Relations)
    Điện thoại : 131 628 (tiền gọi địa phương ở NSW) Website: http://www.industrialrelations.nsw.gov.au/
  • Hội Đồng Chống Ky Thị NSW (Anti-Discrimination Board of NSW)
    Level 17, 201 Elizabeth Street, Sydney 2000
    Điện thoại : (02) 9268 5544 hoặc 1800 670 812
    Website: www.lawlink.nsw.gov.au/adb

SOURCE: http://www.industrialrelations.nsw.gov.au

29 thg 12, 2007

TÍNH CÁCH VIỆT

Hãy đắp điếm nhớ thương
phủ nhiều hoa lên dĩ vãng.
Rồi biên chế ba lô cho nhẹ gánh lên đường.

1. Những đặc tính của một dân tộc không phải trời cho ngay một lúc, mà được hình thành dần trong những điều kiện đặc biệt về không gian (hay địa lý) và thời gian (hay lịch sử).
Có thể nói đặc tính nổi bật nhất của người Việt là đặc tính chống (hay tự vệ¬).
Câu hỏi Tồn tại hay không tồn tại luôn được đặt ra với chúng ta một cách bức thiết trong suốt chiều dài của lịch sử. Và chỉ riêng việc tồn tại của một nước Việt Nam trên bản đồ thế giới đã có thể coi là một kì tích.
Trải đằng đẵng hàng nghìn năm Bắc thuộc từ thuở còn trứng nước mà không bị tiệt giống (hay đồng hóa) bản thân nó đã nói lên sức sống “bất trị” của các dân tộc Việt.
Một số nước lớn có một thói quen rất du đãng của bọn xã hội đen là bắt nạt các nước yếu. Và luôn nhận vơ lãnh thổ của họ bất chấp lẽ phải và đạo lý. Việc dám “chơi nhau” tay bo với các “bố già” sừng sỏ nhất đến từ phương Bắc, từ phía mặt trời mọc, từ châu Âu và cả châu Mỹ xa xôi cho họ phơi bụng đã chứng tỏ bản lĩnh thiện chiến của “nhược tiểu” Việt Nam.
Nó được gói gọn trong hai câu ca dao tuyệt vời hào khí dưới đây:
Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu nát dè đâu xe kềnh

Nếu chúng ta có một truyền thống “chống” number – one, chúng ta chưa có đủ điều kiện và thời gian để tự tạo cho mình một truyền thống “xây” cân xứng.
Hay nói như các nhà khoa học nhân văn, Việt Nam có một truyền thống tự vệ hàng đầu nhưng còn thiếu truyền thống “phát triển”. Nói thế không có nghĩa là ta không có khả năng phát triển mà chỉ có nghĩa rằng đó là một sở đoản, cần phải nỗ lực học tập, rèn luyện trường kì để biến nó thành sở trường.

2. Đã có một thời nhận xét sau đây rất được truyền tụng:
“Ta đã thắng đế quốc Mỹ thì khó khăn nào ta cũng thắng được”.
Nhận xét này không hoàn toàn sai, nhưng không đủ, và hơi vội. Đánh Mỹ oanh liệt trong chiến tranh giải phóng dân tộc và phát triển bền vững đất nước thành một quốc gia công nghiệp tiền tiến là hai việc khác nhau, đòi hỏi những kinh nghiệm khác nhau.


Xây dựng một nước Việt Nam to đẹp, đàng
hoàng phát triển cả về mặt GDP lẫn nhân phẩm.

Trong những điều kiện đã thay đổi, những ưu điểm của thời trước có thể trở thành nhược điểm thậm chí, trở ngại của thời kì sau.
Trong chiến tranh du kích, một đặc tính tối cần thiết là sự đối phó mau lẹ, một khả năng “tháo vát”, “giật gấu vá vai”, “hoạt trí” hơn là những suy tính dài hơi, có tính hệ thống. Đó là nguyên nhân chính (ở đây tôi không đề cập đến tệ tham nhũng) của những kế hoạch kinh tế vội vàng, “chụp giật” làm tốn kém tài sản nhiều khi tới mức kếch xù của nhân dân.
Một kế hoạch tốt không đòi hỏi một sự ứng phó nhanh mà đòi hỏi một suy tính bình tĩnh, bao quát, xây dựng trên những thông tin đầy đủ và những luận chứng xác đáng. Xuất phát từ một trình độ tri thức của những chuyên viên tinh thông. Vì thiếu cái khả năng này nên chúng ta thường đưa ra những kế hoạch vội vàng, “ăn đong”, phải liên tục sửa chữa, càng sửa chữa càng rối, càng nát.

3. Những tính cách của một dân tộc có thể coi là vốn xã hội của dân tộc đó, mà đã nói đến vốn, thì phải nói đến việc sử dụng vốn đó một cách tối ưu. Muốn đạt được sự tối ưu đó, cần phải xây dựng một lớp người quản lí xã hội có tri thức, nghĩa là hiểu biết dựa trên một hệ thống thông tin minh bạch và trung thực.
Không ít người thường lẫn lộn một thông tin khoa học với một thông tin quảng cáo. Ở ta, có một thói quen rất không tốt là coi những người nói về những khuyết điểm của cộng đồng là kém yêu nước hơn những người nói về ưu điểm. Người ta sẵn sàng chấp nhận những ưu điểm “ảo” và dị ứng những khuyết điểm “thật”. Trong một xã hội trung thực nói những ưu điểm “ảo”, hoang đường sai lệch nhằm những mục đích vụ lợi cần phải được phê phán nghiêm khắc như một hành động vu cáo.
Quảng cáo cần thông tin đẹp để quyến rũ, khoa học cần thông tin xác thực để hiểu biết và thức tỉnh.
Đó là hai chuyên ngành khác nhau.

4. Ai cũng biết nông dân Việt Nam nổi tiếng là cần cù, hay lam hay làm.
Chính những người nông dân cần cù này đã một thời trở thành những kẻ chây lười, tắc trách do tác động một số chính sách nông nghiệp sai lầm của chúng ta về hợp tác hóa.
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc nổi tiếng có truyền thống hiếu học.
Chúng ta đã sử dụng vốn đó thế nào khiến nạn chạy bằng, chạy điểm, chạy lớp lan tràn khắp nước, đến mức người phụ trách cao nhất của ngành Giáo dục phải lớn tiếng kêu gọi: “Nói không với tiêu cực trong học đường”. Trong ngôn ngữ thông dụng của hoạt động kinh tế thị trường, người ta gọi đó là “buôn thua bán lỗ”, là ăn vào vốn.
Đã có một thời người ta ca ngợi tính cách “phép vua thua lệ làng”, quan hệ làng xóm “tối lửa tắt đèn”, “chín bỏ làm mười” của người Việt như một ưu điểm trong việc xây dựng một nền dân chủ của xã hội.
Phải biết rằng trong quá trình xây dựng một nhà nước pháp quyền, đó là một điều tối kị, nó dẫn đến tình trạng “trên bảo dưới không nghe”, ảnh hưởng rất xấu đến sự thực thi của pháp luật. Một xã hội văn minh phải là một xã hội có kỉ cương thông suốt từ trên xuống dưới.
Việc chấp hành kỉ luật một cách thoải mái, thân thiện với một cộng đồng làng xã có thể rất dễ chịu nhưng nó tiềm ẩn một nguy cơ rất lớn khi ta xây dựng một xã hội công nghiệp kỹ thuật cao, chẳng hạn công nghệ nguyên tử.
Một nhà báo đã nói đùa: Đứng về mặt giao thông đô thị thì Việt Nam là nước tự do nhất thế giới.
Chúng ta thường tự hào đất nước có hàng nghìn cây số bờ biển nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa xây dựng được một nền văn minh biển. Không xây dựng được một nền văn minh biển thì làm sao ra biển lớn được? Các nhà sử học đều biết rằng, biển đóng một vai trò lớn như thế nào trong việc xây dựng một nền văn minh năng động và hiện đại.
Một nhà văn hài hước đã bình luận câu hát rất phổ biến “Biển một bên và em một bên” như sau: Đó là tấn bi kịch của anh nằm giữa, quay sang Đông thì bên Tây hứ, quay sang Tây thì bên Đông hừ. Bao giờ thì chúng ta thực sự ra biển?
Mong ước đau đáu suốt đời và sau đời của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nước Việt Nam to đẹp, đàng hoàng phát  triển cả về mặt GDP lẫn nhân phẩm.
Khi nghiên cứu những tính cách của dân tộc, chúng ta nhất thiết không được đãng trí mục tiêu trên.
Cần phải thẳng thắn nhận thức rằng, muốn xây dựng một quốc gia tiên tiến chỉ có sự thông minh, tháo vát, nhiệt tình thôi không đủ. Mà cần, rất cần một cái nhìn bao quát, có hệ thống và tầm xa của tri thức.
Việc nâng cao dân trí cũng như quan trí đã trở thành một đòi hỏi sống còn, bức bách đối với sự phát triển của đất nước Việt Nam.
-----------------

Lê Đạt

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

20 thg 12, 2007

GIA ĐÌNH VIỆT NAM - BIẾN ĐỔI VÀ TRIỂN VỌNG

Nguyễn Linh Khiếu

Những biến đổi của gia đình Việt Nam thời gian qua đang tạo ra những băn khoăn, lo lắng cho không ít người về sự tác động của toàn cầu hóa đối với gia đình và văn hóa gia đình. Tuy nhiên, các nghiên cứu về gia đình cho thấy, mặc dù có những vấn đề cần đặc biệt quan tâm và sớm có giải pháp điều chỉnh, nhưng những biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay vẫn trong khung cảnh tôn vinh và làm mới những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, tiếp nhận một cách chủ động những giá trị văn hóa của gia đình hiện đại.

Vào những năm đầu đổi mới, “mở cửa”, với sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường và sự du nhập ồ ạt lối sống, phương thức sinh hoạt của xã hội phương Tây vào nước ta, trên các phương tiện thông tin đại chúng và diễn đàn khoa học, không ít người đã lên tiếng báo động về nguy cơ “khủng hoảng” của gia đình Việt Nam. Sự lo ngại ở thời điểm ấy không phải không có cơ sở. Tuy nhiên, cho đến nay, sau 20 năm đổi mới, gia đình Việt Nam không những không bị khủng hoảng mà ngày càng được củng cố và phát triển. Đó là một thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới do Đảng ta lãnh đạo.

Vào thời điểm hiện nay, con người Việt Nam vẫn coi hôn nhân là sự kiện trọng đại, thiêng liêng và gia đình là phương thức sinh sống quan trọng nhất của hầu như tất cả mọi người. Gia đình là một thiết chế xã hội. Nó là sản phẩm của lịch sử. Vì thế, gia đình bị quy định bởi điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tôn giáo… của một xã hội nhất định. Qua gia đình, chân dung của xã hội hiện ra một cách sinh động và toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, tư tưởng, tôn giáo, lối sống, phong tục, tập quán và tín ngưỡng… Gia đình là một nhóm xã hội đặc biệt được hình thành một cách tự nhiên bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống, mọi thành viên cùng chung sống và có chung ngân sách.

Mặc dù chịu tác động nhiều chiều của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa, nhưng hiện tại, gia đình Việt Nam vẫn là một giá trị bền vững và có sức sống mạnh mẽ. Nó vẫn là nền tảng, là tế bào của xã hội. Với tư cách là đơn vị kinh tế, đơn vị tiêu dùng của xã hội, một mặt, gia đình trực tiếp tham gia thúc đẩy sự phát triển của các quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông của đời sống kinh tế; mặt khác, là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, nương tựa của mỗi con người trong suốt cuộc đời. Gia đình cũng là nơi lưu giữ, truyền thụ, chuyển giao và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Gia đình Việt Nam đang trong bước chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại trên nhiều phương diện và xu hướng khác nhau, cả tích cực và tiêu cực. Đó là sự biến đổi mang tính toàn diện cả về cơ cấu, các quan hệ, các chức năng và vai trò của người phụ nữ trong gia đình.

Sự biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay, trước hết, được thể hiện trong biến đổi cơ cấu gia đình. Loại hình gia đình rất phong phú, nhưng gia đình hạt nhân - loại hình gia đình tiên tiến, phù hợp với xã hội hiện đại - mang tính phổ biến. Quy mô của gia đình rất đa dạng, nhưng số gia đình hai thế hệ chiếm tỷ lệ cao nhất với số người trong gia đình trung bình là trên/dưới 4 người. Trong các mối quan hệ gia đình, quan hệ hôn nhân về cơ bản do tình yêu của đôi nam - nữ quyết định. Hôn nhân được sự đồng ý của cha mẹ, sự công nhận của pháp luật và được tổ chức cưới theo nghi thức đời sống mới. Tuổi kết hôn của cả nam và nữ đều có xu hướng tăng cao và sau khi kết hôn, đôi vợ chồng thường có nơi ở riêng và số con của mỗi cặp vợ chồng đa số chỉ là trên/dưới 2 con. Mặc dù trong gia đình người đàn ông vẫn thường được đề cao và cha mẹ vẫn có nhiều quyền uy với con cái nhưng nhìn chung, các mối quan hệ trong gia đình hiện nay đã mang tính chất tự do, dân chủ và bình đẳng.

Gia đình Việt Nam hiện nay, về cơ bản, vẫn là mô hình gia đình truyền thống đa chức năng. Các chức năng cơ bản của gia đình như: chức năng kinh tế; chức năng tái sản xuất con người và sức lao động; chức năng giáo dục - xã hội hóa; chức năng tâm - sinh lý, tình cảm… được phục hồi, có điều kiện thực hiện tốt hơn và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với từng thành viên gia đình mà còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội đất nước. Chức năng của gia đình được đề cao cũng có nghĩa gia đình đang có vai trò và vị thế quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Bình đẳng giới trong gia đình là một nét mới trong biến đổi của gia đình Việt Nam và đã thu hút sự quan tâm, đồng tình thực hiện của cả xã hội. Đó là người phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất, tái sản xuất, tiếp cận các nguồn lực phát triển, các quyết định, các sinh hoạt cộng đồng và thụ hưởng các lợi ích, phúc lợi gia đình; đồng thời, các thành viên gia đình và các dịch vụ xã hội cũng từng bước chia sẻ gánh nặng công việc nội trợ gia đình đối với người phụ nữ, góp phần thiết thực tạo điều kiện và cơ hội giúp phụ nữ phát huy mọi tiềm năng của mình trong hội nhập và phát triển.

Trong bối cảnh đổi mới và toàn cầu hóa hiện nay, gia đình Việt Nam đã biến đổi một cách toàn diện và ngày càng trở thành một thực thể hoàn thiện - năng động phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội có nhiều biến động. Sự biến đổi ấy chính là một quá trình liên tục bảo tồn, truyền thụ, phát huy những giá trị của gia đình truyền thống; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc và cải biến những giá trị tiên tiến, những tinh hóa của gia đình hiện đại. Có thể nói, gia đình Việt Nam hiện nay chính là sản phẩm của sự hiện đại hóa các giá trị cao quý của gia đình Việt Nam truyền thống và truyền thống hóa những giá trị, tinh hoa gia đình của các xã hội hiện đại.

Những giá trị truyền thống quý báu của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn được bảo tồn và phát huy như: tình yêu lứa đôi trong sáng; lòng chung thủy, tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh vô tận của cha mẹ với con cái; con cái hiếu thảo với cha mẹ; con cháu kính trọng, biết ơn và quan tâm tới ông bà, tổ tiên; tình yêu thương, chăm lo và đùm bọc anh em, họ hàng; đề cao lợi ích chung của gia đình; tự hào truyền thống gia đình, dòng họ. Đồng thời, gia đình Việt Nam cũng tiếp thu nhiều tinh hoa, giá trị tiên tiến của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự do cá nhân; tôn trọng quan niệm và sự lựa chọn của mỗi người; tôn trọng lợi ích cá nhân; dân chủ trong mọi quan hệ; bình đẳng nam nữ; bình đẳng trong nghĩa vụ và trách nhiệm; bình đẳng trong thừa kế; không phân biệt đối xử đẳng cấp, thứ bậc giữa con trai và con gái, giữa anh và em... Đó chính là cùng với những đặc trưng của gia đình truyền thống được phát huy, gia đình Việt Nam hiện nay đang được củng cố và xây dựng theo xu hướng hiện đại hóa: dân chủ, bình đẳng, tự do và tiến bộ.

Tuy nhiên, cùng với những cơ hội và những điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển tiến bộ, gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa nhiều biến động và bất trắc: đó là tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao; sống chung không kết hôn; tình trạng trẻ em nghiện hút; tệ nạn mại dâm; tình dục đồng giới; trẻ em lang thang; buôn bán phụ nữ qua biên giới; bạo lực trong gia đình; bất bình đẳng giới; ngoại tình; xu hướng đề cao tiền bạc trong quan hệ giữa người và người... đang tấn công vào gia đình từ nhiều phương diện khác nhau.

Trong bối cảnh đó, để gia đình Việt Nam ngày càng giữ gìn và phát huy được những giá trị cao quý vốn có của mình, chủ động, tích cực tiếp thu được những tinh hoa, giá trị của gia đình các xã hội hiện đại; đồng thời, ngăn chặn một cách có hiệu quả sự tấn công của tệ nạn xã hội, những nguy cơ dẫn đến tan rã gia đình... Cần tập trung vào một số vấn đề sau: có hệ giải pháp thiết thực để thực hiện tốt nhất Chiến lược củng cố và xây dựng gia đình; có hệ chính sách hữu hiệu hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình; phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí; có chính sách tích cực tạo điều kiện để đoàn tụ gia đình, gắn bó các thành viên gia đình; đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo; tăng cường thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; đẩy mạnh việc thực hiện nghiêm chỉnh hệ thống chính sách xã hội đối với các gia đình chính sách; tiếp tục mở rộng tuyên truyền, phổ biến kiến thức về giới góp phần thiết thực tạo lập sự bình đẳng giới trong gia đình và xã hội.

Thực hiện tốt những vấn đề trên, chúng ta sẽ tạo ra những điều kiện tốt nhất để gia đình Việt Nam ngày càng được củng cố và phát triển theo xu hướng ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Gia đình Việt Nam hiện nay và trong tương lai vẫn sẽ thực sự là tế bào của xã hội, là một thiết chế cơ bản của xã hội, là tổ ấm, nơi nương tựa quan trọng nhất của mỗi người. Gia đình Việt Nam là một nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đối với xã hội Việt Nam, gia đình bao giờ cũng gắn liền với xã hội, vì lẽ đó không thể có một xã hội phát triển nếu các gia đình bị suy sụp, khủng hoảng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "...nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt". Xã hội ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ và toàn diện, đó là cơ sở để khẳng định gia đình Việt Nam cũng đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 19 (139) NĂM 2007

17 thg 12, 2007

LUẬT BỎ NGỎ VIỆC CÔNG NHẬN CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH "CHUI"

ĐỨC MINH

ĐỌC DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH TẠI ĐÂY

Hà Vy (tạm gọi tên này) vừa chi 7.000 USD phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Việc xác định lại giới tính trong gấy tờ hộ tịch của Hà Vy tùy thuộc vào việc được tổ chức y tế xác định có lệch lạc giới tính hay không.

Nếu có khuyết tật về giới tính, được tổ chức y tế chứng nhận thì giải phẫu trong hay ngoài nước, trước hay sau Nghị định 158 vẫn được cải chính hộ tịch.

Sở Tư pháp TP.HCM vừa có Công văn hướng dẫn Phòng tư pháp quận Gò Vấp thực hiện việc xác định lại giới tính từ nữ sang nam theo đơn yêu cầu của một công dân. Đây là trường hợp hy hữu được phép cải chính giới tính. Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quốc Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Hành chính - Tư pháp (Bộ Tư pháp).

. Thưa ông, theo pháp luật hiện nay trường hợp nào được cải chính về giới tính?

+ Vấn đề xác định lại giới tính được quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 và được cụ thể hóa tại Nghị định 158. Xác định lại giới tính, bản chất là cải chính, có hai góc độ. Một là xác định lại giới tính cho một người trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính. Thứ hai, giới tính của đứa trẻ là nam thật hoặc nữ thật, không có gì bất bình thường nhưng khi đăng ký, do tắc trách của cán bộ tư pháp, của bố mẹ... mà đăng ký nhầm giới tính của đứa trẻ.

. Trong trường hợp đầu tiên, điều kiện để được xác định lại giới tính là gì, thưa ông?

+ Việc thay đổi không phải là miễn cưỡng mà là hết sức tự nhiên, do sự phát triển không bình thường, nay trả lại “giá trị đích thực” cho họ bằng một tác động y học. Nghị định 158 quy định rõ, trường hợp xác định lại giới tính, thì phải có văn bản kết luận của tổ chức y tế đã tiến hành can thiệp để xác định lại giới tính làm căn cứ cho việc xác định lại giới tính.

. Kết luận đó là của cơ quan, tổ chức y tế nước ngoài thì có được chấp nhận không?

+ Nghị định 158 chỉ quy định chung, không nói rõ là trong nước hay nước ngoài, như vậy về nguyên tắc là không có sự phân biệt. Trường hợp này sẽ quay lại nguyên tắc chung là đương sự phải chứng minh được tổ chức y tế đã tiến hành can thiệp để xác định lại giới tính cho họ có chức năng làm việc này hay không. Các giấy tờ có liên quan phải được hợp pháp hóa lãnh sự, được dịch ra tiếng Việt, bản dịch phải được công chứng theo quy định của pháp luật Việt Nam.

. Trường hợp đương sự đã thực hiện việc can thiệp xác định lại giới tính trước khi Nghị định 158 có hiệu lực thì có được pháp luật thừa nhận hay không?

+ Không có ảnh hưởng gì cả. Nếu họ có những giấy tờ chứng minh được họ đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Nghị định 158 thì đều có thể làm thủ tục xác định lại giới tính.

. Thưa ông, với trường hợp không có cơ sở xác định việc lệch lạc giới tính nhưng họ đã đi nước ngoài chuyển đổi giới tính do nhu cầu tâm lý, họ có được làm thủ tục xác định lại giới tính hay không?

+ Thực tế, có nhiều người đã ra nước ngoài thực hiện việc phẫu thuật, chuyển đổi giới tính và có nguyện vọng cải chính lại giới tính. Những trường hợp đó hiện nay pháp luật chưa cho phép. Cá nhân tôi cho rằng, về một mặt nào đó, đây là quyền của cá nhân.

Cần có một nghiên cứu cụ thể về vấn đề này, thực tế diễn ra như vậy thì hướng xử lý như thế nào, có chấp nhận hay không chấp nhận? Tôi chưa được tham dự cuộc hội thảo nào về vấn đề này, nhưng đúng là hiện nay có một nhu cầu thực sự như thế. Có không ít trường hợp chúng ta vẫn quen gọi là pêđê, họ là nam nhưng để tóc dài, nói năng như con gái... và muốn chuyển thành nữ thì như thế nào? Hay hiện nay cũng có không ít trường hợp dở khóc dở cười, họ đã thực hiện việc chuyển đổi giới tính, hình thức là nữ đấy nhưng giấy tờ hộ tịch vẫn là nam... Đây là vấn đề pháp luật còn “bỏ ngỏ” nhưng tương lai cũng sẽ phải tính đến...

. Thủ tục xác định lại giới tính ra sao, thưa ông?

+ Theo Nghị định 158, người yêu cầu xác định lại giới tính phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính giấy khai sinh của người cần xác định lại giới tính và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho xác định lại giới tính. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu việc xác định lại giới tính có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, cán bộ Tư pháp hộ tịch cấp xã hoặc cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp cấp huyện ghi vào sổ đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch và quyết định cho phép xác định lại giới tính. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký và cấp cho đương sự một bản chính Quyết định cho phép xác định lại giới tính. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của đương sự.

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá năm ngày.

. Xin cảm ơn ông!

Xác định giới tính ngay sau khi sinh

Bác sĩ Ngô Minh Xuân, Trưởng khoa Sơ sinh Bệnh viện Từ Dũ, cho biết như sau: Sau khi sản phụ sinh, các bác sĩ tiếp nhận em bé và khám kỹ về phần sinh dục ngoài và xác định giới tính của em bé để ghi vào bệnh án. Khi có bất thường về bộ phận sinh dục ngoài sẽ siêu âm để xác định em bé là trai hay gái. Nếu là bé trai thường thì có tinh hoàn, còn em bé gái thì thấy tử cung, buồng trứng bên trong. Tuy nhiên cần phải lấy máu của em bé để xem nhiễm sắc thể đồ của bé là trai hay gái. Khi nhiễm sắc đồ của đứa bé có bệnh rối loạn như về gen và di truyền thì phát hiện được. Các bác sĩ sẽ xem mức độ của em bé như thế nào để giúp đỡ, giới thiệu để khám chuyên khoa. Xác suất của việc này không cao, một năm chỉ khoảng vài ca.

DUY TÍNH

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

23 thg 11, 2007

QUẢN LÝ LAO ĐỘNG THEO GIỚI LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

 TS. LÊ THANH HÀ

1. Bản chất của quản lý lao động theo giới 

Theo chúng tôi, quản lý lao động (QLLĐ) theo giới về thực chất là việc thường xuyên quan tâm đến yếu tố giới, tạo cơ hội bình đẳng cho sự tham gia của nam và nữ trong các nội dung QLLĐ, bao gồm các nội dung xây dựng và tổ chức thực hiện luật pháp và chính sách lao động (LĐ) các cấp từ trung ương đến cơ sở; ra các quyết định về LĐ và tuyển dụng, sử dụng LĐ ở các địa phương, cơ quan, đơn vị. 

Rõ ràng, các nội dung QLLĐ tác động trực tiếp đến người LĐ, trong đó có cả nam và nữ, họ vừa là người thực thi, vừa là người thụ hưởng thành quả của các nội dung QLLĐ này. Việc đưa vấn đề giới vào các nội dung QLLĐ, với mục đích tạo sự tham gia tích cực của cả nam và nữ trong việc hình thành luật pháp, chính sách, quyết định về các vấn đề LĐ là cần thiết bởi lẽ, bằng chính sự tham gia đó của cả hai giới, các nội dung QLLĐ sẽ có tính bao phủ cao hơn, thoả mãn hài hoà lợi ích của cả hai giới, sẽ được người LĐ chấp nhận và mang lại hiệu quả cao. Nhiều tổ chức quốc tế đã thực hiện nghiên cứu, tổng kết cho các kết luận bổ ích về khía cạnh kinh tế của vấn đề này. Theo Ngân hàng Thế giới “Đầu tư vào sự phát triển của phụ nữ mang lại lãi suất cao hơn bất kỳ sự đầu tư nào khác ở các nước đang phát triển” Theo Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc: “Đầu tư vào khả năng của phụ nữ và tạo quyền cho họ thực hiện lựa chọn cơ hội không chỉ đem lại lợi ích cho phụ nữ, mà còn là cách chắc chắn nhất để đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế và phát triển chung” [1].  

Mặt khác, mục tiêu của phát triển là lấy con người làm trung tâm: phát triển vì con người, của con người và do con người, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển. Song con người bao gồm nữ và nam có cấu tạo cơ thể khác nhau, xã hội lại quan niệm và nhìn nhận họ khác nhau nên các cơ hội của họ cũng khác nhau khi tham gia các nội dung QLLĐ. Ở phần lớn các quốc gia, bao giờ nữ cũng thiếu các cơ hội so với nam nên LĐ nữ cũng thiếu cơ hội hơn so với LĐ nam. Kinh nghiệm của các nước cho thấy rằng: tạo cơ hội cho nữ bình đẳng với nam trong LĐ và QLLĐ sẽ làm cho quá trình phát triển bền vững hơn, hiệu quả hơn. Cho nên, việc tạo điều kiện và cơ hội cho nữ đóng góp vào quá trình phát triển của đất nước và hưởng lợi bình đẳng kết quả của phát triển xã hội là nội dung quan trọng trong QLLĐ. Những phân tích trên đã chỉ ra rằng, nghiên cứu vấn đề QLLĐ theo giới về thực chất là nghiên cứu sự bình đẳng giữa nam và nữ trong quá trình LĐ, cũng như sự tham gia của họ trong vấn đề xây dựng, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, chính sách và quyết định về LĐ ở các cấp từ trung ương đến cơ sở. 

2. Tiếp cận QLLĐ theo giới ở các quốc gia trên thế giới 

Đã có sự thay đổi trong quá trình nhìn nhận vấn đề QLLĐ từ góc độ giới. Trước đây, LĐ nữ thụ động trong mọi công việc và phụ thuộc vào nam giới, ngày nay, LĐ nữ đã được coi là những người độc lập. Đã có 6 quan điểm trong quá trình nghiên cứu phụ nữ kể từ những năm 50 của thế kỷ XX, từ những quan điểm này đã có các chính sách đối với LĐ nữ khác nhau trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. 

Quan điểm phúc lợi xuất hiện trước năm 1950 ở các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước châu Á. Người phụ nữ bị phụ thuộc hoàn toàn vào nam giới, họ hầu như không tham gia vào quá trình QLLĐ, “họ chỉ được xem là những người hưởng lợi một cách thụ động trong quá trình phát triển “ và “nhấn mạnh vai trò sinh đẻ của họ”. Theo quan điểm này các chính sách xã hội vĩ mô được xây dựng để hỗ trợ vai trò làm mẹ, làm vợ của LĐ nữ (trợ cấp lương thực, vật phẩm, tiền...) và hầu như không có sự tham gia của nữ trong các nội dung QLLĐ. 

Quan điểm về bình đẳng thuần tuý ra đời từ những năm 1960 đến 1970 là quan điểm đầu tiên liên quan đến phụ nữ trong sự phát triển. Quan điểm này cho rằng phụ nữ tham gia tích cực trong quá trình phát triển nhưng họ lại bị “tụt hậu” quá xa so với nam giới, vì vậy chính sách vĩ mô của Nhà nước cần chú ý tới cơ cấu phụ nữ trong cơ cấu hiện hành, xây dựng sự bình đẳng trong luật pháp. Quan điểm này chưa làm rõ mối quan hệ giữa nam và nữ và sự khác nhau về những khoảng cách giữa hai giới, đồng thời bỏ qua tình trạng bất bình đẳng giới ở từng địa phương. 

Quan điểm chống nghèo đói xuất hiện cuối những năm 1970, cho rằng sự bất bình đẳng về kinh tế giữa nam và nữ là do nghèo đói chứ không phải là hậu quả của sự phụ thuộc. Do vậy, chính sách của Nhà nước đề cập đến vai trò sản xuất của nữ và tăng việc làm, thu nhập cho nữ. Quan điểm này không đề cập đến vai trò tái sản xuất của nữ và những phong tục, tập quán cản trở sự tham gia của nữ. Do vậy, LĐ nữ hầu như chỉ làm các nghề đơn giản có thu nhập thấp. Vai trò của nữ được thừa nhận nhưng vị trí của họ chưa được cải thiện. Mức độ tham gia của họ trong QLLĐ, đặc biệt ở cấp cao, bị hạn chế. 

Quan điểm sử dụng triệt để sức LĐ của nữ giới cho rằng sự đóng góp của phụ nữ vào quá trình phát triển của quốc gia chưa nhiều và LĐ nữ là nguồn tiềm năng phát triển chưa được vận dụng hết, cần phải được sử dụng tốt hơn. Theo đó, các chính sách vĩ mô được xây dựng nhằm hoà nhập phụ nữ vào quá trình phát triển để sử dụng hết nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả quá trình phát triển. Quan điểm này mới chú ý tới sử dụng LĐ nữ, chưa đề cập tới sự hưởng lợi của họ nên họ phải chịu áp lực nhiều hơn trong công việc: vừa phải làm tốt việc cơ quan, vừa đảm nhận vai trò tái sản xuất sức LĐ trong gia đình. Các bất bình đẳng mới lại xuất hiện... phụ nữ làm việc từ 10h ? 16h/ ngày, sức khoẻ kém, học hành bị hạn chế... , vị trí của họ chưa được đánh giá đúng và việc sử dụng LĐ nữ cũng chưa thực sự có hiệu quả. 

 Các quan điểm trên không đề cập tới sự bất bình đẳng về quyền lực giữa nam và nữ đã kéo dài suốt thời kỳ phát triển. Quan điểm trao quyền lực xuất hiện giữa thập kỷ 70 với mục tiêu tạo cơ hội để củng cố và mở rộng quyền lực của nữ nhằm đạt được sự tự chủ cho họ. Việc “Trao quyền” cho nữ không phải là lấy quyền của nam trao cho nữ, mà là thực hiện quyền dân chủ đối với nữ trong mọi lĩnh vực, trong sản xuất cũng như sinh hoạt, trong cơ quan cộng đồng cũng như gia đình ở mọi lúc, mọi nơi. Thực hiện dân chủ cần được xem xét dưới góc độ giới mới đạt được dân chủ thật sự, nếu không chỉ có nam được dân chủ còn nữ vẫn không có tiếng nói, không thể hiện được nguyện vọng của mình và luôn bị phụ thuộc nam như một “thói quen”. Quan điểm trao quyền đặt nữ vào đúng vị trí của họ, tạo điều kiện để họ có tiếng nói của mình và tham gia vào các nội dung QLLĐ có hiệu quả hơn. 

 Quan điểm giới và phát triển xuất phát từ việc gắn quan hệ sản xuất với quan hệ tái sản xuất, phân tích bản chất đóng góp của nữ và nam trong quá trình phát triển cả trong xã hội và gia đình, gồm cả việc sản xuất hàng hoá, dịch vụ để trao đổi và cả việc sản xuất không phải hàng hoá hoặc các dịch vụ không có lương. Quan điểm tiếp cận này chỉ ra nguyên nhân sâu xa của tình trạng bất bình đẳng giới trong quá trình LĐ. Đây là vấn đề cần giải quyết của LĐ nữ để sử dụng LĐ có hiệu quả góp phần vào sự phát triển đất nước hiệu quả và bền vững hơn. 

 Quan điểm này không coi nữ là nhóm riêng biệt mà nhấn mạnh vai trò và nhu cầu của nữ và nam, chỉ ra rằng phải có đóng góp của cả nam và nữ mới tạo ra sự thay đổi cần thiết để đạt được bình đẳng, thúc đẩy bình đẳng nam – nữ trong QLLĐ sẽ mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội và phát triển bền vững cho quốc gia. Theo quan điểm này, các chính sách của Nhà nước cần chỉ rõ vai trò của nữ và nam trong quá trình phát triển và nhiệm vụ của cả hai giới trong việc thúc đẩy bình đẳng giới. Quan điểm này đáp ứng nhu cầu của cả hai giới, nâng cao địa vị cho giới bị thiệt thòi (thường là nữ) và thực hiện công bằng xã hội. Các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới chính là những hoạt động nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn LĐ, đặc biệt là LĐ nữ. 

3. Quản lý lao động theo giới ở Việt Nam 

 Xét về khía cạnh chính sách và thực hiện chính sách, Bộ Luật LĐ đã dành một chương với mười điều đối với LĐ nữ (chương X) tạo điều kiện cho LĐ nữ tham gia vào quá trình LĐ bình đẳng mọi mặt với nam. Điều 119, Điểm 2 quy định: “Nhà nước có chính sách và biện pháp từng bước mở mang việc làm, cải thiện điều kiện LĐ, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần cho LĐ nữ nhằm giúp họ phát huy hiệu quả năng lực, nghề nghiệp, kết hợp hài hoà cuộc sống LĐ và cuộc sống gia đình”. Bộ luật LĐ cũng đã quy định cụ thể tại Điều 5, Điều 109, Điều 111 về vấn đề không phân biệt đối xử, vấn đề bình đẳng nam – nữ và quyền của LĐ nữ. Luật đã ban hành và có Nghị định và Thông tư hướng dẫn song việc thực hiện các chính sách vẫn còn một số bất cập nhất định. Tỷ lệ LĐ nữ làm các công việc được trả công, trả lương chỉ chiếm khoảng 40%, LĐ nữ vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi, vẫn là đối tượng yếu thế trên thị trường LĐ [2].  

 LĐ nữ thường bị phân biệt đối xử trong trường hợp tuyển dụng vì lý do lập gia đình, trách nhiệm khi sinh đẻ, nuôi con nhỏ (người phụ nữ mất ít nhất hai năm khi sinh và nuôi một người con. Nếu sinh hai con, người phụ nữ mất đi ít nhất là 4 năm so với nam giới. Ngoài sự mất mát về thời gian, sức khoẻ của phụ nữ cũng bị suy yếu, thậm chí tính mạng bị đe dọa. Ở giai đoạn phụ nữ sinh và nuôi con, nam giới tiếp tục học tập và phát triển, vì vậy, sau thời gian này nhìn chung phụ nữ “tụt hậu” hơn so với nam giới). Một số doanh nghiệp (DN) có hiện tượng áp đặt khoảng thời gian tối thiểu làm việc tại DN để được lập gia đình hoặc sinh con đối với LĐ nữ nếu được tuyển dụng vào làm việc. Theo kết quả điều tra [3], có 15% DN quy định thời gian làm việc tối thiểu để được kết hôn, trong đó DN nhà nước chiếm tỷ trọng cao nhất (34,04%) và thấp nhất là Công ty TNHH (3,03%). Về thời gian kết hôn có 45,45% quy định tối thiểu dưới 1 năm, 18,18% quy định từ 1- 2 năm và 36,37% - trên 2 năm. 

 Tương tự, có 25,69% DN quy định LĐ nữ chỉ được phép sinh con sau khi làm việc một thời gian nhất định. Tỷ lệ này cao nhất trong các DN nhà nước (50%) và thấp nhất ở các Công ty TNHH (9,09%). Thời gian làm việc tối thiểu các DN này quy định đối với LĐ nữ để được sinh con chủ yếu là trên 2 năm (58,33%). 

 Nguyên nhân của sự phân biệt này là DN thường cho rằng sử dụng LĐ nữ tốn kém và không hiệu qủa bằng sử dụng LĐ nam; chi phí cho LĐ nữ thường nhiều hơn do việc nghỉ đẻ, trợ cấp thai sản, nghỉ việc do con ốm ... Trong khi đó các quy định ưu tiên đối với DN sử dụng nhiều LĐ nữ lại có thủ tục rườm rà, khó thực hiện.  

 Về tiền lương (TL), Hiến pháp và pháp luật đều quy định sự bình đẳng giữa nam và nữ, song, theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2000, mức thu nhập bình quân của LĐ nữ chỉ bằng 87,6% của nam. Trong khu vực nhà nước, thu nhập của LĐ nữ thấp hơn LĐ nam 15,3%. Một số khác biệt này xuất phát từ sự chênh lệch về trình độ, thâm niên công tác, nhưng không phải mọi trường hợp đều như vậy.  

 TL trung bình của nam cao hơn nữ từ 10 - 11% trong điều kiện như nhau về đặc điểm (tuổi đời, trình độ, kỹ năng tay nghề, công việc, địa điểm làm việc...), riêng các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ trả lương tương đối bình đẳng hơn [4]. 

 Tương tự, theo kết quả điều tra 505 DN với 2696 người LĐ thực hiện năm 2001 do trường Đại học KTQD và Viện HAGUE thực hiện cho thấy TL và thu nhập của nữ luôn bị yếu thế so với nam. TL giờ bình quân của nữ thấp hơn nam khoảng 15%. Khoảng cách này tồn tại ở tất cả các ngành kinh tế, các hình thức sở hữu của DN, khu vực, vị trí công việc, trình độ giáo dục, nhóm tuổi và loại hợp đồng. Khoảng cách TL giờ của khu vực tư nhân cao nhất (26%). Trong các ngành, sự chênh lệch TL giờ giữa LĐ nam và LĐ nữ cao nhất ở ngành điện lực (1,33 lần), TL giờ bình quân của hai giới ở miền Bắc và miền Trung gần như nhau trong khi miền Nam khoảng cách này khá rõ nét. Số liệu điều tra của VLSS cũng cho thấy TL của LĐ nữ luôn thấp hơn TL của LĐ nam trong công việc được trả lương ở tất cả các mảng thị trường LĐ trong điều kiện giống nhau về đặc điểm (tuổi đời, trình độ, kỹ năng tay nghề, nơi làm việc...) [5].  

 Về thời gian làm việc và nghỉ ngơi, theo kết quả điều tra [6], có tới 60% LĐ nữ có phải làm việc thêm tới trên 4h/ngày so với 40% LĐ nam. Ngoài ra, phụ nữ còn làm việc hơn 2 - 6 giờ trong 1 ngày so với nam vì công việc nội trợ. Vì thế nữ thiếu thời gian để học tập, giải trí nâng cao sức khỏe và trí tuệ để tham gia vào quá trình LĐ. 

 Nguyên nhân cơ bản của hiện tượng này là người sử dụng LĐ đặc biệt là người QLLĐ chưa chú ý tới các đặc điểm giới và giới tính trong quá trình LĐ. Nguyên nhân sâu xa là nhà QLLĐ chưa được đào tạo QLLĐ theo giới. Thực tế cho thấy rằng, ở các trường chuyên nghiệp, vấn đề quản lý lao động theo giới gần như không được quan tâm. Thậm chí, ngay cả các trường đại học đào tạo các chuyên ngành về LĐ, vấn đề QLLĐ theo giới rất ít được quan tâm, vấn đề lồng ghép giới vào các môn học hầu như chưa được thực hiện hoặc thực hiện rất ít. 

 Xét về khía cạnh tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện chính sách LĐ, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có chủ trương về bình đẳng nam – nữ rất sớm và có nhiều chính sách tạo điều kiện để phụ nữ tiến bộ và phát triển song những chính sách đó chưa thực sự đi vào thực tiễn. Vì vậy, để giải quyết các bất cập nêu trên cần phải đưa quan điểm “giới và phát triển" vào QLLĐ. Số liệu của Văn phòng Quốc hội cho thấy, tuy Việt Nam có tỷ lệ phụ nữ tham gia vào Quốc hội cao nhất trong khu vực Châu Á (Khoá XI - 27,3%), đứng thứ hai sau ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương (sau New Zealand), đứng thứ 10 thế giới (sau Cuba, Đan Mạch, Phần Lan, Đức, Iceland, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Nam Phi và Thuỵ Điển), song điều này không có nghĩa là các nguyên tắc của QLLĐ theo giới đã được thực hiện đầy đủ. Cũng theo số liệu của Văn phòng Quốc hội, phụ nữ chỉ tập trung với tỷ lệ cao ở Uỷ ban Giáo dục, Thiếu niên nhi đồng (41,2%); Uỷ ban Dân tộc miền núi (39,5%) và Uỷ ban về các vấn đề xã hội (32,3%), trong khi đó ở một số uỷ ban khác, tỷ lệ này rất thấp (Uỷ ban các vấn đề quốc tế – 15,8%; Uỷ ban khoa học và kỹ thuật – 10,7%; Uỷ ban kinh tế và ngân sách – 3,1%). 

 Theo số liệu thống kê [7], tỷ lệ phụ nữ trong Hội đồng nhân dân các cấp trong ba khoá gần đây tuy có tăng lên nhưng vẫn thấp hơn so với yêu cầu của QLLĐ theo giới. Tỷ lệ nữ cao nhất vẫn là ở cấp tỉnh – 23,8%, sau đó đến cấp huyện – 23,22% và thấp nhất là ở cấp xã - 20,3%.  

 Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới về việc phụ nữ tham gia vào công việc địa phương ở một số tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa như Hà Giang, Lào Cai, Quảng Trị.., tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo ở cơ sở rất thấp. Tại các điểm khảo sát (Hà Giang), không có xã nào có cán bộ nữ tham gia lãnh đạo cấp xã, thôn; ở Lào Cai, Quảng Trị, phụ nữ nghèo và phụ nữ vùng cao ít đi họp hoặc nếu đi thì chỉ ngồi nghe, ít tham gia ý kiến vào các công việc của địa phương... 

 Nguyên nhân sâu xa của tất cả các hiện tượng trên là do công tác giáo dục - đào tạo dành cho nữ vẫn còn nhiều điểm bất cập, ý thức, nhận thức về QLLĐ theo giới chưa cao, công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ nữ kế cận vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. 

4. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả QLLĐ theo giới 

 Để nâng cao hiệu quả QLLĐ theo giới, chúng tôi có một số khuyến nghị sau: 

 Một là, cần tiếp tục bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh hệ thống văn bản luật và chính sách nhằm đưa vấn đề QLLĐ theo giới là vấn đề bắt buộc đối với quốc gia, trong đó nên quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia vào bộ máy lãnh đạo các cấp, tham gia vào quá trình hoạch định chính sách phải không duới 30%. Cần có văn bản hướng dẫn quy trình ra quyết định QLLĐ các cấp theo đúng quy trình lồng ghép giới. 

 Hai là, cần thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề QLLĐ theo giới. Trước hết, các nhà quản lý, lãnh đạo trong bộ máy quản lý nhà nước, trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp cần được cung cấp các kiến thức cơ bản về QLLĐ theo giới và áp dụng kiến thức này vào việc hoạch định luật pháp, chính sách và ra các quyết định về QLLĐ. Các kiến thức cần được cung cấp tối thiểu gồm: (1) Nhạy cảm giới: có kiến thức về giới, có nhận thức về vai trò khác nhau của phụ nữ và nam giới, hiểu được nguyên nhân của sự khác nhau dẫn đến hạn chế sự tiến bộ của phụ nữ hoặc nam giới; (2) Trách nhiệm giới: đưa ra được các biện pháp nhằm khắc phục nguyên nhân làm hạn chế sự tiến bộ của phụ nữ hoặc nam giới; (3) Chu trình và nguyên tắc lồng ghép giới vào vấn đề QLLĐ; (4) Lợi ích của việc lồng ghép giới vào QLLĐ. Cũng cần tăng cường hoạt động tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông đại chúng về vấn đề QLLĐ theo giới và lợi ích của vấn đề này.  

 Hơn nữa, thông qua đào tạo và các phương tiện truyền thông đại chúng, cần thay đổi cách nhìn nhận người LĐ theo hướng chú ý đến đặc điểm giới để phân công nhiệm vụ, trách nhiệm phù hợp với mỗi người theo đặc điểm giới và giới tính của họ. Khi sử dụng LĐ nữ, cần nhìn nhận cả những hoạt động tái sản xuất của họ. Nếu khoảng cách giới còn lớn, LĐ nữ còn phải làm phần lớn các công việc trong gia đình, cần có các biện pháp phù hợp để sử dụng hợp lý lực lượng LĐ nữ. 

 Ngoài ra, cần tăng cường đào tạo về QLLĐ theo giới tại các trường đại học, cao đẳng, mà trước hết là đào tạo về QLLĐ theo giới cho đội ngũ giáo viên. Dựa vào đội ngũ giáo viên đã được trang bị kiến thức QLLĐ theo giới, tiến hành lồng ghép vấn đề QLLĐ theo giới vào nội dung các môn học. Với các trường đại học, nên đưa học phần: “Giới và phát triển” vào nội dung chương trình đào tạo. Với các chuyên ngành đào tạo về lao động, nên hình thành học phần: “Quản lý lao động theo giới” như là một nội dung kiến thức chuyên ngành. 

 Ba là, cần tiến hành lồng ghép giới trong các nội dung của QLLĐ ở các cơ quan, doanh nghiệp. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc (1997), lồng ghép giới được hiểu là quá trình đánh giá và kết hợp giữa phụ nữ và nam giới trong bất cứ hoạt động có kế hoạch nào; trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, để phụ nữ và nam giới đều hưởng lợi như nhau tiến tới bình đẳng nam nữ. Cần nhấn mạnh rằng, lồng ghép giới chính là công cụ hữu hiệu của QLLĐ theo giới. 

Để lồng ghép giới có hiệu quả trong các hoạt động QLLĐ ở cơ quan, DN, cần thực hiện các bước sau: 

Bước 1: Nghiên cứu, phân tích về giới.

 Trong bước này cần tập hợp được các số liệu và đề ra các biện pháp tách biệt theo giới tính:  

° Xác định tỷ lệ nam, tỷ lệ nữ tham gia và cách thức điều chỉnh tỷ lệ này hợp lý (mỗi giới nên có tỷ lệ tối thiểu 30%).  

° Xác định các kinh nghiệm của nam và nữ và cách thức sử dụng hiệu quả các kinh nghiệm này. 

° Xác định các nhu cầu, nguyện vọng của nam và nữ và cách thức đáp ứng các nhu cầu của nam và nữ. 

° Xác định mức độ ảnh hưởng của chính sách, quyết định đưa ra đến nam, nữ trong tất cả các quá trình từ khâu xây dựng đến giám sát, đánh giá... và các hoạt động tiếp theo và xây dựng các biện pháp khắc phục các tác động xấu. 

° Xác định mức độ ưu tiên của các mục tiêu cần đạt được đối với nam, nữ. 

° Lựa chọn các mục tiêu ưu tiên đối với nam, nữ trong khuôn khổ nguồn lực hạn chế, đảm bảo cả nam và nữ đều được tham gia và hưởng lợi bình đẳng trong thực hiện công việc [8] cũng như thành quả công việc đó mang lại. 

Bước 2: Lập và phê duyệt kế hoạch giới.

 Dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu và phân tích ở bước 1, xây dựng và phê duyệt kế hoạch (chính sách) nhằm sử dụng hợp lý và bình đẳng LĐ nam và LĐ nữ , đảm bảo cả nam và nữ đều được hưởng lợi bình đẳng. 

Bước 3: Tổ chức thực hiện kế hoạch (chính sách).

 Trong bước này cần thực hiện phân công công việc, trong đó đảm bảo có sự tham gia chủ động, bình đẳng của phụ nữ và nam giới ở tất cả bước công việc với tư cách người tham gia hưởng lợi và ra quyết định.  

Bước 4: Kiểm tra, giám sát và đánh giá.

Vấn đề kiểm tra, giám sát và đánh giá cũng tập trung vào vấn đề bình đẳng giữa nam và nữ trong thực hiện công việc và mức độ hưởng lợi từ công việc. 

Có thể khái quát chu trình lồng ghép giới vào QLLĐ theo sơ đồ 1. Để thực hiện chu trình này có hiệu quả, cần xây dựng khuôn khổ thể chế và tổ chức thích hợp để lồng ghép giới. Cũng cần đảm bảo cho phụ nữ có cơ hội nói lên những khó khăn, nhu cầu cần thiết của họ và mong muốn của họ trong công việc. Ngoài ra, các cán bộ lãnh đạo, tổ chức quản lý cần có kiến thức về giới, có nhạy cảm giới và trách nhiệm giới, nếu không, cần lấy ý kiến tư vấn của các chuyên gia về giới. 

 Bốn là, cần nhân rộng các điển hình thực hiện tốt việc lồng ghép giới vào các nội dung QLLĐ. Trước hết, cần tập trung xây dựng các điển hình QLLĐ theo giới trong một số cơ quan, DN hoặc dự án được lựa chọn, dưới sự trợ giúp của các chuyên gia về QLLĐ theo giới. Sau một thời gian (nên là 1 năm), tổ chức đánh giá hiệu quả của QLLĐ theo giới ở các cơ quan, DN, dự án này và xây dựng thành các mô hình QLLĐ theo giới. Các mô hình này, cùng hiệu quả thiết thực của nó so với trước khi thực hiện QLLĐ theo giới sẽ được phổ biến, tuyên truyền và nhân rộng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng để các cơ quan, DN, dự án khác học tập và áp dụng. 

Năm là, cần đẩy mạnh việc triển khai các chương trình hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ, trong đó đặc biệt chú trọng công tác giáo dục, đào tạo cho cán bộ và LĐ nữ ở các vùng sâu, vùng xa, nâng cao nhận thức cho các đối tượng này về QLLĐ theo giới ª 

Chú thích

[1] Báo cáo phát triển của UNDP 1995 

[2] VLSS, 1997-1998; RCFLG/ILO, điều tra 100 DN sử dụng nhiều LĐN, năm 2000. 

[3] RCFLG/ILO, điều tra 100 DN sử dụng nhiều LĐN, năm 2000 

[4] RCFLG/ILO, điều tra 100 DN sử dụng nhiều LĐN, năm 2000 

[5] Phân mảng thị trường LĐ: Tác động của chính sách LĐ và các chính sách khác đến phân mảng thị trường LĐ ở Việt nam, Dự án Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo – ADB, Viện Khoa học Lao động và Xã hội. 

[6] Điều tra tình hình thực hiện pháp luật LĐ năm 2000; Điều tra tình hình thực hiện pháp luật LĐ đối với các DN có vốn đầu tư nước ngoài năm 2001; Điều tra các DN sử dụng nhiều LĐ nữ năm 2000. 

[7] http://ebiz.com.vn/?page=tintuc&code=congnghe&id=w3schinhtriw3sdoimoiw3snctdws3ws34w3sws36w3s159467w3s ngày 19.8.2005 

[8] Công việc được hiểu như là việc sản xuất một sản phẩm, thực hiện một dự án hay quá trình xây dựng, thực hiện một chính sách...) 

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo phát triển của UNDP, 1995. 

2. Điều tra tình hình thực hiện pháp luật LĐ năm 2000. Viện khoa học lao động và xã hội.  

3. Điều tra tình hình thực hiện pháp luật LĐ đối với các DN có vốn đầu tư nước ngoài năm 2001. Viện khoa học lao động và xã hội. 

4. Điều tra các DN sử dụng nhiều LĐ nữ năm 2000. Viện khoa học lao động và xã hội. 

5. Phân mảng thị trường lao động: Tác động của chính sách lao động và các chính sách khác đến phân mảng thị trường lao động ở Việt Nam. Dự án nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo. ADB, Viện khoa học lao động và xã hội.

6. Các trang Web: http://www.nld.com.vn/tintuc/the-gioi/124605.asphttp://ebiz.com.vn/?page=tintuc&code=congnghe&id=w3schinhtriw3sdoimoiw3snctdws3ws34w3sws36w3s159467w3s http://www.undp.org.vn/undp/docs/2000/gbkv/plan-v.htm

-----------------------------------------------------------------------------------

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ THÁNG 7/2006

6 thg 9, 2007

BÁO CÁO THẨM TRA DỰ ÁN LUẬT PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006 của Quốc hội, ngày 13 tháng 10 năm 2006, Uỷ ban pháp luật đã họp toàn thể để thẩm tra dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình theo Tờ trình số 2376 TTr/UBXH ngày 12 tháng 10 năm 2006 của Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội. Sau khi nghe Đồng chí Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội, Trưởng ban soạn thảo trình bày dự án Luật, các thành viên Uỷ ban pháp luật đã thảo luận. Sau phiên họp thẩm tra, cơ quan soạn thảo đã nghiên cứu, tiếp thu nhiều ý kiến của Ủy ban pháp luật để hoàn thiện dự thảo Luật trình Quốc hội tại kỳ họp này như bỏ quy định về yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi bạo lực trong gia đình gây ra tại các Điều 5 và Điều 6; bỏ quy định về việc Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định cấm tiếp xúc với nạn nhân trong thời hạn không quá 4 tháng và bỏ thẩm quyền của Công an cấp xã ra quyết định cấm tiếp xúc không quá 3 ngày quy định tại Điều 18; đồng thời nhiều điều khoản đã được chỉnh lý lại cho chặt chẽ hơn. Dưới đây, Uỷ ban pháp luật xin trình Quốc hội Báo cáo thẩm tra về dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình.

I. MỘT SỐ Ý KIẾN CHUNG

Theo Tờ trình của Ủy ban về các vấn đề xã hội về kết quả khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và báo cáo của các cơ quan, tổ chức hữu quan thì tình trạng bạo lực trong gia đình ở nước ta đã đến lúc báo động. Bạo lực trong gia đình xảy ra ở nhiều nơi trong cả nước, ở các đối tượng có trình độ, nhận thức khác nhau và đã để lại những hậu quả nặng nề, tác động xấu đến đời sống xã hội, đến cộng đồng, nhưng nghiêm trọng hơn đó là sự vi phạm quyền con người, xâm phạm danh dự, nhân phẩm và tính mạng của người dân mà chủ yếu là phụ nữ. Nguyên nhân gây ra bạo lực trong gia đình rất đa dạng, phụ thuộc vào quá trình giáo dục, trình độ nhận thức, văn hóa ứng xử và hoàn cảnh sống của mỗi người, kể cả sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm từ phía cơ quan nhà nước, tổ chức, đoàn thể xã hội.

Qua thảo luận, nhiều thành viên Ủy ban pháp luật tán thành với Ủy ban về các vấn đề xã hội là trước tình hình thực tế về bạo lực trong gia đình như đã nêu trên, việc ban hành luật là cần thiết và sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm cũng như thái độ ứng xử của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng dân cư và cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, góp phần bảo vệ hạnh phúc, sự phát triển lành mạnh của mỗi gia đình. Bên cạnh đó cũng có nhiều thành viên Ủy ban pháp luật cho rằng không cần thiết phải ban hành Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình, vì vấn đề này có liên quan đến nhiều lĩnh vực và đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật hiện hành như Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Pháp lệnh người cao tuổi, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính… Các văn bản pháp luật đó đã quy định khá đầy đủ các biện pháp để khắc phục, hạn chế và trừng phạt người có hành vi bạo lực trong gia đình ở nước ta. Nay nếu lại ban hành Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình thì một số quy định của dự án Luật sẽ trùng lắp với quy định của các văn bản pháp luật đã nêu, nhất là cơ quan trình dự án Luật lại chưa tổng kết việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật liên quan tới việc chống bạo lực trong gia đình.

Ủy ban pháp luật nhận thấy, Ban soạn thảo đã có rất nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, tham khảo pháp luật và tổ chức một số đoàn đi khảo sát kinh nghiệm thực tiễn về phòng, chống bạo lực trong gia đình của một số nước để xây dựng dự án Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình. Trong quá trình soạn thảo, Ban soạn thảo đã tổ chức lấy ý kiến của nhiều cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương và đã gửi Chính phủ cho ý kiến. Song đa số thành viên Ủy ban pháp luật còn rất băn khoăn về tính khả thi của Luật này. Bởi vì, bạo lực trong gia đình là một vấn đề xã hội, thể hiện lối sống thiếu trách nhiệm, việc ứng xử thiếu văn hóa trong gia đình, phản ánh sự suy thoái về đạo đức của một số thành viên trong gia đình. Xét trên tổng thể thì có thể thấy rằng, những vụ bạo lực trong gia đình còn xảy ra là do công tác quản lý xã hội của Nhà nước kém hiệu quả; các tổ chức, đoàn thể xã hội chưa quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; trong khu dân cư vẫn còn những người sống theo quan điểm “đèn nhà ai nhà nấy rạng”. Như vậy, việc khắc phục tình trạng bạo lực trong gia đình đòi hỏi phải sử dụng nhiều biện pháp đồng bộ, cả về kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, pháp luật và phải mang tính toàn diện. Những biện pháp phòng ngừa và xử lý về mặt pháp luật quy định trong dự thảo Luật về cơ bản đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật hiện hành. Trong khi đó một số quy định mới như các hành vi bạo lực trong gia đình, các biện pháp liên quan như việc cấm tiếp xúc với nạn nhân, giáo dục tại cộng đồng, các nguồn lực bảo đảm cho việc thực hiện kể cả về tài chính, địa chỉ tin cậy, sự chăm sóc của cộng đồng .v.v. được xây dựng không xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội và phong tục tập quán, tâm lý của người Việt Nam mà dựa trên cơ sở kết quả các chuyến nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm ở nước ngoài, luật pháp của nước ngoài. Vì vậy, những người có ý kiến này e rằng nếu áp dụng một số biện pháp xử lý quy định trong dự thảo Luật có thể làm sâu sắc hơn mâu thuẫn trong gia đình, không có tác dụng cho việc hàn gắn quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, chẳng hạn như biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình quy định tại Điều 18 dự thảo Luật.

Bên cạnh đó cũng có một số thành viên Ủy ban pháp luật tán thành với dự thảo Luật vì cho rằng, các quy định của dự thảo Luật khi được triển khai trên thực tế sẽ góp phần không nhỏ vào việc ngăn chặn, đẩy lùi bạo lực trong gia đình, chẳng hạn, các quy định về công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, tổ chức, cơ quan sẽ góp phần nâng cao nhận thức, hành vi ứng xử của con người trong đời sống gia đình, về truyền thống, đạo lý gia đình Việt Nam. Các biện pháp từ giáo dục tại cộng đồng, cấm tiếp xúc giữa người gây bạo lực trong gia đình với nạn nhân cho đến việc xử lý người có hành vi bạo lực trong gia đình có tác dụng giáo dục, răn đe, góp phần hạn chế, tiến tới chấm dứt tình trạng bạo lực trong gia đình.

II. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU

1. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Theo Tờ trình của Ủy ban về các vấn đề xã hội thì đối tượng áp dụng Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình không chỉ áp dụng đối với các thành viên gia đình theo Luật hôn nhân và gia đình mà còn áp dụng với những đối tượng là nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ, chồng hoặc vợ, chồng đã ly hôn nhưng chung sống với nhau mà không đăng ký kết hôn lại.

Qua thảo luận, một số ý kiến tán thành với đối tượng áp dụng của dự thảo Luật vì cho rằng, việc bảo vệ nạn nhân do bạo lực trong gia đình trước hết là đối với những thành viên trong gia đình có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau và những người có quan hệ tình cảm gần gũi khác. Bởi vì, thực tế cho thấy, từ nhiều lý do khác nhau nên có nhiều nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chỉ tổ chức cưới hoặc không tổ chức cưới nhưng vẫn chung sống với nhau như vợ chồng, nhất là ở những vùng mà điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Có những trường hợp tuy đã ly hôn song vẫn ở với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn lại; trong cuộc sống đã xảy ra nhiều vụ bạo lực giữa họ, nếu không áp dụng quy định của luật này nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý người có hành vi bạo lực thì vô hình chung Nhà nước ta bỏ lọt đối tượng này, không bảo vệ nạn nhân của hành vi bạo lực trong gia đình. Việc quy định như trong dự thảo Luật chỉ là vấn đề áp dụng pháp luật, không có nghĩa là thừa nhận tình trạng hôn nhân này.

Nhiều ý kiến khác không tán thành việc mở rộng đối tượng áp dụng Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình, vì cho rằng Điều 41 của dự thảo Luật quy định áp dụng cả đối với nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ, chồng là Nhà nước đã gián tiếp thừa nhận tình trạng không đăng ký kết hôn nhưng vẫn chung sống với nhau, như vậy là trái với quy định chấm dứt tình trạng hôn nhân thực tế. Mặt khác, khi có hành vi bạo lực xảy ra giữa các đối tượng quy định tại Điều 41 của dự thảo Luật không thể xác định trường hợp nào là bạo lực trong gia đình và trường hợp nào là bạo lực ngoài xã hội để có biện pháp xử lý thích hợp. Về mặt pháp luật, quan hệ giữa những người này không phải là quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Do đó khi đã quy định rõ đối tượng áp dụng luật tại khoản 2 Điều 1 thì phải bỏ Điều 41 của dự thảo Luật. Tương tự như vậy, đối với người nước ngoài có hành vi bạo lực trong gia đình cũng không thể áp dụng nhiều biện pháp xử lý quy định trong dự thảo Luật như cấm tiếp xúc với nạn nhân (Điều 18) chứ không phải chỉ những quy định tại Điều 42 của dự thảo Luật.

2. Về các hành vi bạo lực trong gia đình (Điều 3)

Qua thảo luận, đa số thành viên Ủy ban pháp luật tán thành với việc quy định cụ thể các hành vi bạo lực trong gia đình tại Điều 3 của dự thảo Luật và cho rằng quy định như vậy bảo đảm tính minh bạch, thuận tiện khi áp dụng, nhất là đối với công tác tuyên truyền, giáo dục và xử lý người có hành vi bạo lực trong gia đình. Cách quy định này cũng tương tự như quy định liệt kê về các hành vi tham nhũng trong Luật phòng, chống tham nhũng mới được Quốc hội thông qua. Tuy nhiên, về các hành vi cụ thể thì đề nghị cần rà soát lại để vừa bảo đảm chặt chẽ, không bỏ lọt hành vi nhưng cũng không trùng lặp và cho rằng các hành vi bạo lực trong gia đình có mối quan hệ với nhau, có trường hợp hành vi này là hệ quả của hành vi khác, có hành vi mang tính khái quát chung, nhưng cũng có hành vi rất cụ thể.

Về hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục và có hành vi khác xâm phạm đến đời sống tình dục (khoản 5 Điều 3), qua thảo luận có ý kiến tán thành với quy định trong dự thảo Luật nhưng nhiều ý kiến cho rằng, hành vi bạo lực tình dục trong gia đình ở nước ta tuy có xảy ra nhưng lại được coi là chuyện riêng trong mỗi gia đình, do đó cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm cũng không thể biết được để xem xét, xử lý. Hơn nữa rất khó thu thập căn cứ để xác định một người có hành vi bạo lực tình dục trong gia đình. Vì vậy, đề nghị bỏ quy định tại khoản 5 Điều 3 của dự thảo Luật; trong trường hợp xảy ra hành vi bạo lực về tình dục mà xét thấy cần thiết và có thể xử lý được thì xem đó như là một hình thức bạo lực về thể chất, tinh thần.Mặt khác, nếu xác định hành vi “cưỡng ép quan hệ tình dục hoặc có hành vi khác xâm phạm đến đời sồng tình dục” (khoản 5 Điều 3), “cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ” (khoản 6 Điều 3) là những hành vi bạo lực trong gia đình thì liệu những đối tượng quy định tại Điều 40 của dự thảo Luật mà có những hành vi trên đây lại xử lý theo quy định của luật này đã hợp lý chưa hay phải theo quy định của Bộ luật hình sự? Tương tự như vậy, về những hành vi bạo lực về kinh tế được quy định tại khoản 7 và khoản 8 Điều 3 của dự thảo Luật, cũng cần phải xem xét lại để phân định rõ hành vi bạo lực trong gia đình và hành vi phạm tội. Bởi vì tính chất, mức độ của từng hành vi như chiếm đoạt, kiểm soát…là rất đa dạng. Do đó, quy định như trong dự thảo Luật vừa thừa, vừa thiếu lại không chính xác.

Có ý kiến cho rằng, sự phân biệt các hành vi bạo lực trong gia đình chỉ mang tính tương đối, vì giữa các hành vi có mối quan hệ với nhau. Chẳng hạn, những tác động của hành vi bạo lực về thể chất có ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần, những hành vi xâm phạm tình dục sẽ ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần của nạn nhân…Do đó, nên khái quát quy định hành vi bạo lực về thể chất và bạo lực về tinh thần phù hợp với các quy định khác trong văn bản pháp luật hiện hành.

3. Về quyết định cấm người có hành vi bạo lực tiếp xúc với nạn nhân của bạo lực trong gia đình

Theo Tờ trình thì trong trường hợp khẩn cấp và theo yêu cầu của nạn nhân hay người đại diện hợp pháp của nạn nhân, cơ quan, tổ chức, để bảo vệ sự an toàn cho nạn nhân thì cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong một thời hạn nhất định giữa người gây bạo lực trong gia đình với nạn nhân.

Qua thảo luận, Ủy ban pháp luật cho rằng, bảo vệ nạn nhân của bạo lực trong gia đình nhằm phòng ngừa hậu quả xấu có thể gây tác hại đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân là một yêu cầu thực tế, là trách nhiệm của Nhà nước, của gia đình và cộng đồng xã hội. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp các vụ bạo lực trong gia đình đã không bị phát hiện, các nạn nhân của bạo lực trong gia đình thường âm thầm chịu đựng, thậm chí họ còn cố gắng che giấu thông tin; có trường hợp hành vi bạo lực trong gia đình diễn ra thường xuyên nhưng nạn nhân không được giúp đỡ, bảo vệ dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, bên cạnh việc khuyến khích nạn nhân tố cáo hành vi bạo lực trong gia đình thì cần có biện pháp kịp thời để bảo vệ họ. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực trong gia đình cần được quy định cụ thể hơn và cũng cần tính đến điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta, đến khả năng của cộng đồng dân cư cũng như phong tục tập quán trong quan hệ gia đình và bảo đảm sự phù hợp với đời sống gia đình Việt Nam và tính khả thi của quy định này.

a) Về biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân của hành vi bạo lực trong gia đình theo quyết định của cơ quan hành chính có thẩm quyền (Điều 18)

Tại Điều 18 của dự thảo Luật quy định Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (cấp xã) có quyền áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn 3 ngày giữa người có hành vi bạo lực trong gia đình với nạn nhân bằng cách “buộc người có hành vi bạo lực gia đình rời khỏi nơi ở chung với nạn nhân trong thời gian cấm tiếp xúc theo yêu cầu của nạn nhân” (khoản 3 Điều 18). Qua thảo luận, một số ý kiến tán thành cần có biện pháp này. Song nhiều ý kiến khác còn rất băn khoăn vì biện pháp cách ly các bên không cùng ở chung với nhau vẫn khó có thể đảm bảo cho người có hành vi bạo lực không thể tiếp cận hoặc liên hệ với nạn nhân. Mặt khác, trong trường hợp người có hành vi bạo lực trong gia đình là chủ sở hữu ngôi nhà mà họ đang ở thì không thể đưa họ khỏi nhà đó vì phải bảo đảm quyền lợi hợp pháp của họ. Thực tế phát triển kinh tế - xã hội hiện nay ở nước ta cho thấy, gia đình là một thể thống nhất, mọi thành viên trong gia đình đều phải chung sức chăm lo các công việc gia đình như nội trợ, chăm sóc con cái. Do đó, việc cách ly sẽ gây xáo trộn rất lớn trong gia đình và hậu quả của việc này là không thể lường hết được. Mặt khác, việc cách ly người có hành vi bạo lực trong gia đình với nạn nhân liên quan đến quyền cơ bản của công dân nên trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp này phải hết sức chặt chẽ, cơ quan nào tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện biện pháp cách ly này; nếu người có hành vi bạo lực vẫn tiếp xúc nạn nhân thì xử lý thế nào? Trong trường hợp người có hành vi bạo lực trong gia đình không đồng ý với quyết định áp dụng biện pháp này thì có quyền khiếu nại hay không? thẩm quyền giải quyết, trình tự, thủ tục khiếu nại được thực hiện ra sao? quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân là quyết định thuộc loại gì, có phải là quyết định xử lý vi phạm hành chính không?

b) Về biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân của bạo lực trong gia đình theo quyết định của Tòa án (Điều 19)

Điều 19 của dự thảo Luật quy định: “Trong quá trình thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người gây bạo lực gia đình, Tòa án có thẩm quyền ra quyết định cấm người có hành vi bạo lực gia đình tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình trong thời hạn không quá 4 tháng”.

Qua thảo luận có một số ý kiến tán thành với quy định trên đây của dự thảo Luật và cho rằng, để bảo vệ sự an toàn của nạn nhân, tránh dẫn đến xung đột lớn hơn và gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân thì cần phải giao cho Tòa án thẩm quyền quyết định cấm người có hành vi bạo lực trong gia đình tiếp xúc với nạn nhân dưới mọi hình thức. Quy định này cũng đáp ứng đòi hỏi trong thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án trong thời gian vừa qua liên quan đến hành vi bạo lực trong gia đình. Đồng thời đề nghị bổ sung cụm từ “khẩn cấp tạm thời” sau cụm từ “ra quyết định” cho phù hợp với quy định tại Điều 102 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, nhiều ý kiến còn rất băn khoăn và đề nghị cần cân nhắc kỹ khi đưa ra quy định về biện pháp này, nhất là về tính khả thi của nó khi mà điều kiện cơ sở vật chất, về chỗ ở, sinh hoạt của nhân dân còn nhiều khó khăn. Hơn nữa, với thời gian cách ly 4 tháng thì không chỉ ảnh hưởng tới công việc chung của gia đình mà còn ảnh hưởng tới sự hàn gắn lại tình cảm giữa các thành viên trong gia đình. Đồng thời, theo ý kiến này, nếu coi đây là một biện pháp khẩn cấp tạm thời trong hoạt động tố tụng dân sự thì cũng cần phải quy định thật cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp này và cơ quan nào có quyền ban hành văn bản trên đây.

III. VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ KHÁC

1. Về tên gọi của Luật

Qua thảo luận, có ý kiến cho rằng, “bạo lực gia đình” là một khái niệm mới. Vì vậy, để việt hóa và phù hợp hơn với ngôn ngữ Việt Nam, nên bổ sung từ “trong” thành “bạo lực trong gia đình” và do đó cần sửa lại tên luật là “ Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình” cho chính xác. Tên gọi này cũng phù hợp với những nội dung cơ bản của dự thảo Luật và Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006 của Quốc hội.

Bên cạnh đó, có ý kiến khác băn khoăn về tên gọi của Luật vì cho rằng, khái niệm “bạo lực” được hiểu là dùng sức mạnh để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ. Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa này thì khái niệm bạo lực trong gia đình là hẹp, không bao quát hết phạm vi điều chỉnh của Luật là hành vi bạo lực về cả thể xác, tinh thần và kinh tế. Do đó đề nghị lấy tên gọi của luật là “Luật phòng, chống bạo hành trong gia đình”.

2. Về bố cục của dự thảo Luật

Dự thảo Luật trình Quốc hội gồm 6 chương với 43 điều. Qua thảo luận có nhiều ý kiến tán thành với bố cục của dự thảo Luật. Tuy nhiên, có một số ý kiến đề nghị bỏ Điều 7 quy định về chính sách của Nhà nước về phòng, chống bạo lực trong gia đình vì nhiều quy định cụ thể của dự thảo lại không phù hợp. Hơn nữa, chính sách về đấu tranh phòng, chống bạo lực trong gia đình đã được thể hiện ở nhiều văn bản pháp luật hiện hành. Có ý kiến đề nghị bỏ Chương III quy định về bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình, đồng thời đưa các điều khoản có tính chất phòng ngừa, ngăn chặn bạo lực trong gia đình về Chương II (phòng ngừa bạo lực trong gia đình), đưa các điều khoản có tính chất xử lý người có hành vi bạo lực trong gia đình về Chương V (xử lý hành vi bạo lực trong gia đình và các hành vi vi phạm pháp luật khác) và đưa các điều khoản về cơ sở trợ giúp nạn nhân vào Chương IV (trách nhiệm của cá nhân, gia đình, tổ chức, cơ quan trong phòng, chống bạo lực trong gia đình).

3. Về giải thích từ ngữ (Điều 2)

Qua thảo luận, có ý kiến cho rằng có một số cụm từ không chỉ cần được giải thích, làm rõ nghĩa mà nó còn chứa đựng nội dung, quy phạm pháp luật, do đó đề nghị tách các khoản giải thích về: bạo lực gia đình; thành viên gia đình; địa chỉ tin cậy, .v.v. để quy định thành nội dung của các điều khoản riêng ngay trong các Chương và bỏ Điều 3 về giải thích từ ngữ.

4. Về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân của bạo lực gia đình (Điều 6)

Qua thảo luận, có ý kiến đề nghị bổ sung quyền của nạn nhân của bạo lực gia đình trước hết là “được sử dụng các quyền hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật để bảo vệ mình”. Đồng thời, đề nghị cân nhắc tính khả thi của quy định nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình phải “cung cấp thông tin trung thực, chính xác cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi có yêu cầu”. Bởi lẽ một số hành vi liên quan đến bạo lực trong gia đình cần được thông tin mà theo tập quán, truyền thống gia đình Việt Nam vốn được coi là chuyện riêng của mỗi người, nhất là những thông tin liên quan đến đời sống tình cảm vợ chồng, đến bạo lực về tình dục.

5. Về đối tượng cần được quan tâm trong hoạt động giáo dục, tư vấn về gia đình (khoản 3 Điều 12)

Về khoản 3 Điều 12 của dự thảo Luật quy định về các đối tượng cần được quan tâm trong hoạt động giáo dục, tư vấn về gia đình, có ý kiến cho rằng, cách liệt kê các đối tượng như dự thảo Luật dễ gây tâm lý đánh đồng giữa người có hành vi bạo lực trong gia đình với những người khác. Một số ý kiến đề nghị bỏ quy định này vì cho rằng công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tư vấn về bạo lực trong gia đình được áp dụng cho mọi đối tượng và mang tính thường xuyên nhằm phòng ngừa bạo lực trong gia đình, không nên có sự phân biệt đối xử giữa các đối tượng này.

6. Về biện pháp giáo dục tại cộng đồng (Điều 14)

Theo dự thảo Luật, đây là một hình thức giáo dục tại cộng đồng và không phải là biện pháp xử lý hành chính. Tuy nhiên, Ủy ban pháp luật thấy rằng, việc thực hiện hình thức này thế nào thì cần được giải trình rõ hơn. Chẳng hạn ai là người có quyền triệu tập người có hành vi bạo lực? nếu họ không chấp hành thì có biện pháp cưỡng chế hay không? Thành phần tham gia cuộc họp này là ai? có bắt buộc họ phải tham gia hay không? Hơn nữa, tổ dân phố, thôn, làng, bản, ấp là hình thức tự quản, quy mô dân số, thành phần dân cư gồm cả gia đình cán bộ cao, trung cấp cũng rất khác nhau nên không thể quy định một cách chung như trong dự thảo Luật. Đây là những nội dung cần được làm rõ, nếu không sẽ rất khó tổ chức thực hiện.

7. Về hỗ trợ khẩn cấp, bảo đảm nhu cầu thiết yếu (Điều 22)

Tại Điều 22 của dự thảo Luật quy định về việc hỗ trợ cho nạn nhân của bạo lực trong gia đình các nhu cầu thiết yếu về sinh hoạt cá nhân và nhà ở tạm thời trong trường hợp cần thiết khi nạn nhân yêu cầu.

Qua thảo luận, đa số ý kiến đề nghị cân nhắc kỹ quy định này vì trên thực tế bạo lực trong gia đình có thể xảy ra ở mọi nơi, bất cứ lúc nào. Như vậy, để bảo đảm cho quy định này được thực thi thì phải chuẩn bị sẵn về chỗ ở, các nhu cầu thiết yếu phục vụ sinh hoạt và kinh phí để đáp ứng yêu cầu của nạn nhân. Đây là vấn đề không đơn giản và không khả thi. Do đó nếu chấp nhận điều này thì cần phải quy định cụ thể về trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức, nhất là về nguồn kinh phí.

8. Về cơ sở hỗ trợ nạn nhân của bạo lực gia đình và cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực trong gia đình (Điều 26)

Theo quy định tại Điều 26 của dự thảo Luật thì Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân, tổ chức tôn giáo tham gia và thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực trong gia đình. Như vậy ngoài cơ sở y tế Nhà nước và cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước hiện đang tồn tại và được coi là cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình (Điều 24, Điều 25) thì cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình và cơ sở tư vấn về phòng chống bạo lực trong gia đình là những loại hình mới, chưa có ở nước ta. Ủy ban pháp luật đề nghị cần làm rõ ngay trong Luật này tổ chức, cá nhân nào, với điều kiện nào thì được thành lập cơ sở hỗ trợ, cơ sở tư vấn, nhất là về địa vị pháp lý, phạm vi, hình thức tổ chức, nội dung hoạt động cũng như quyền, nghĩa vụ của các cơ sở này; đồng thời, cân nhắc kỹ quy định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tham gia và thành lập các cơ sở này. Đối với quy định Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để thành lập và phục vụ hoạt động của một số cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình và cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực trong gia đình, Uỷ ban pháp luật đề nghị làm rõ cơ sở nào thì được hỗ trợ, cơ sở nào thì không được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch trong tổ chức thực hiện.

9. Về địa chỉ tin cậy (Điều 27)

Theo quy định của dự thảo Luật thì địa chỉ tin cậy là một trong những cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực trong gia đình. Ủy ban pháp luật nhận thấy, tương tự như cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực trong gia đình, địa chỉ tin cậy cũng là một mô hình mới, chưa hề có ở nước ta, nhưng dự thảo Luật cũng chưa làm rõ quyền, trách nhiệm của địa chỉ tin cậy khi thực hiện nhiệm vụ. Những quy định trong dự thảo mới chỉ phác họa ý muốn chủ quan của cơ quan soạn thảo. Vì vậy, Ủy ban pháp luật đề nghị cần cân nhắc và nghiên cứu kỹ hơn về quy định này nhằm bảo đảm tính khả thi.

10. Về các hình thức xử phạt (khoản 3 Điều 36)

Tại điểm b và điểm c khoản 3 Điều 36 của dự thảo Luật quy định người có hành vi bạo lực trong gia đình có thể bị áp dụng biện pháp lao động vì lợi ích cộng đồng trong thời gian không quá 3 ngày hoặc tham gia giáo dục bắt buộc nhằm thay đổi hành vi. Ủy ban pháp luật thấy rằng đây là hai hình thức xử lý mới trong hệ thống biện pháp xử lý vi phạm pháp luật hiện hành. Vì vậy cần được cân nhắc kỹ hơn. Trong trường hợp chấp nhận biện pháp này thì cũng cần quy định cụ thể về cơ quan chịu trách nhiệm cũng như về trình tự, thủ tục tổ chức thực hiện các hình thức lao động vì lợi ích cộng đồng, giáo dục bắt buộc và cả trình tự, thủ tục khiếu nại, giải quyết khiếu nại nữa.

11. Về tình tiết tăng nặng trong xử lý vi phạm hành chính (Điều 37)

Nhiều ý kiến đề nghị cân nhắc về các tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 37 của dự thảo Luật vì trường hợp người có hành vi bạo lực trong gia đình bị xử lý vi phạm hành chính thì phải tuân thủ các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Do đó, đề nghị phải cân nhắc kỹ hơn khi quy định các tình tiết tăng nặng trong xử lý hành vi bạo lực trong gia đình.

Ngoài các vấn đề nêu trên, Ủy ban pháp luật còn thảo luận, góp ý kiến về nhiều điều, khoản cụ thể khác của dự thảo Luật. Về những nội dung cần được quy định chi tiết, Ủy ban pháp luật thấy rằng, để Luật được thực hiện ngay khi có hiệu lực theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì còn rất nhiều vấn đề cần được Ban soạn thảo và các cơ quan hữu quan của Chính phủ trao đổi làm rõ để quy định chi tiết ngay trong luật hoặc chuẩn bị dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành trình Quốc hội xem xét khi Quốc hội thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật này.

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Trên đây là Báo cáo thẩm tra dự án Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình. Ủy ban pháp luật xin kính trình Quốc hội xem xét, quyết định.

TM. ỦY BAN PHÁP LUẬT

Chủ nhiệm

(đã ký)

Vũ Đức Khiển