Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁP LUẬT VỀ TT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁP LUẬT VỀ TT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP. Hiển thị tất cả bài đăng

18 thg 9, 2009

CẦN CÓ ĐỊNH CHẾ CHO PHÉP XÂY DỰNG VÀ ÁP DỤNG ÁN LỆ NHƯ LÀ NGUỒN BỔ SUNG LUẬT PHÁP TRONG XÉT XỬ

LS. NGUYỄN ĐĂNG NGHIÊM

Án lệ (tiếng pháp là Jurisprudence) được định nghĩa là: “Đường lối giải thích và áp dụng luật pháp của các tòa án về một điểm pháp lý, đường lối này đã được coi như một tiền lệ, khiến các thẩm phán sau đó có thể noi theo trong các trường hợp tương tự”.

Theo luật gia Trần Thúc Linh, cũng là cựu thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn cũ trước ngày giải phóng, trong hệ thống tòa xét xử ở các nước tư bản cũng như của chế độ Sài Gòn trước đây thì: “Sở dĩ có được án lệ là nhờ ở Tòa Thượng thẩm (Cour d’appel) và Tòa Phá án (Cour de cassation) là những cơ quan kiểm soát lại các bản án tòa dưới, tòa phá án bảo đảm một sự thống nhất trong việc giải thích luật pháp vì lâu dần các tòa án sẽ hướng theo các án lệ của Tòa Phá án.”

Trong thế kỷ 20 và hiện nay, trong công tác xét xử và kiểm soát xét xử, các tòa án thuộc hệ thống tư pháp các nước châu Âu đã vận dụng xây dựng án lệ để phục vụ cho việc xét xử được linh hoạt, vừa đảm bảo việc áp dụng luật pháp gắn với thực tiễn cuộc sống mà chỉ có đội ngũ thẩm phán xét xử mới nắm bắt kịp thời các sơ hở, thiếu sót của các văn bản luật pháp, trong khi các nhà lập pháp không có điều kiện để xâm  nhập tìm hiểu thực tiễn, hoặc muốn sửa đổi bổ sung những khiếm khuyết của các văn bản luật cũng đòi hỏi một quá trình tu chỉnh, sửa đổi khá lâu lắc, trong khi thân phận những đối tượng bị điều chỉnh bởi luật pháp lại mang tính tức thời trong các vụ án đang đăng đàn xét xử.

Việc xây dựng án lệ theo quan điểm xét xử của các tòa án có thẩm quyền xem xét bản án của tòa dưới đã góp phần bổ sung tốt sự thiếu sót của các qui định luật pháp trong thực tiễn. Ở Anh Quốc, việc vận dụng án lệ kể cả tục lệ pháp được thực hiện khá phổ biến. Chính vì vậy, mà các nhà luật học thường cho rằng hệ thống luật pháp ở Anh Quốc là theo luật mềm, không chỉ căn cứ cứng nhắc vào các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành, mà có sự vận dụng linh hoạt đúng luật vừa phù hợp với thực tiễn, bằng cả nguồn tập quán, tục lệ phù hợp lẽ phải và công bằng xã hội. Hệ thống luật pháp của chế độ Sài Gòn cũ trước năm 1975 vốn chịu ảnh hưởng của luật pháp châu Âu, nhất là luật pháp của Pháp quốc, đặc biệt là về dân luật, cũng rất quan tâm việc xây dựng án lệ.

Ngay bộ Dân luật do chế độ Sài Gòn ban hành ngày 20/12/1972, đã có  qui định liên quan đến yêu cầu áp dụng án lệ trong xét xử, từ Điều 8 và Điều 9 của bộ luật này. Điều 8 ghi: “Thẩm phán nào không chịu xét xử vì lẽ luật không định hay luật tối nghĩa, thiếu sót, sẽ có thể bị truy tố về tội bất khẳng thụ lý”. Điều 9 còn bổ sung thêm: “Gặp trường hợp không có điều luật nào có thể dẫn dụng, thẩm phán sẽ quyết định theo tục lệ; nếu không có tục lệ, sẽ theo công bằng và lẽ phải mà xét xử và phải chú trọng đến ý định của các đương sự”.

Trong thực tế xét xử hiện nay ở nước ta, đã có một số tòa án đã từ chối xét xử một số vụ kiện, đặc biệt đối với các vụ kiện dân sự, hành chính, với lý do viện dẫn là thiếu qui định luật pháp điều chỉnh vụ việc liên quan. Việc từ chối thụ lý vụ việc này có thể dẫn đến hậu quả thiệt hại cho một bên tranh chấp, lại làm lợi cho một bên khác trong vụ kiện. Nên chăng vì thiếu quy định luật, mà từ chối thụ lý vụ việc khiếu kiện do người dân đưa đến tòa, làm người dân lúng túng không tìm được chỗ dựa pháp luật để giải quyết các vấn đề bức xúc của mình, mặc dù về mặt tín lực nội tâm của đương sự xác tín là quyền lợi của mình bị xâm phạm (có thể là quyền lợi vật chất hay quyền lợi tinh thần), tòa án cứ mạnh dạn vận dụng sáng tạo luật pháp để thụ lý, xét xử, miễn là không trái với lẽ phải, sự khách quan công bằng với tâm nghiêm chính của thẩm phán.

Chính vì vậy, tại các nước, đều có qui định mở rộng vận dụng sáng tạo của các tòa án, của các thẩm phán (nhất là các thẩm phán lão làng) trong việc áp dụng luật pháp, để đưa ra quan điểm xét xử theo luật kết hợp với thực tiễn cuộc sống, để đưa ra các bản án mẫu, trở thành án lệ có thể theo đó áp dụng cho các vụ án tương tự về sau. Đây cũng là cách thích hợp tạo điều kiện cho thẩm phán, những người có kinh nghiệm thực tiễn xét xử, tham gia làm luật, góp phần bổ sung luật pháp ngày một hoàn chỉnh hơn.

Hiện nay, hầu hết các nước có nền luật pháp tiên tiến, đều có vận dụng án lệ trong xét xử ở hệ thống tòa án, cũng xuất phát từ yêu cầu thực tiễn xét xử, với nguyên tắc “Tòa án không được quyền từ chối thụ lý bất cứ yêu cầu khởi kiện nào của công dân” và đồng thời cũng có nguyên nhân sâu xa từ sự hội nhập của hai hệ thống luật pháp Anglo Saxon và Continental, kể cả hệ thống pháp luật XHCN về sau.

Chẳng hạn như ở CHLB Đức, phương pháp xây dựng án lệ đã tạo điều kiện cho Tòa án Đức vai trò sáng tạo khá lớn, được giải thích luật “căn cứ vào câu chữ của qui phạm, ngữ cảnh của qui phạm, mục đích của qui phạm, kể cả căn cứ vào quá trình soạn thảo qui phạm đó”. Tòa án ở Đức còn có quyền lựa chọn cách giải thích phù hợp nhất với hiến pháp. Cách làm của Tòa án Đức có ảnh hưởng áp dụng đến cả các qui phạm pháp luật của Liên minh châu Âu. Và ở Đức, hiệu lực án lệ được hình thành từ việc giải thích một qui phạm pháp luật cũng có giá trị, hiệu lực gần như chính qui phạm pháp luật. Rõ ràng án lệ có giá trị không những về thực tiễn, mà còn có giá trị không thua gì một qui phạm pháp luật. Thẩm quyền xây dựng án lệ ở Đức được giao cho các tòa án bảo hiến liên bang và các Tòa án cấp liên bang khác, có giá trị bắt buộc các tòa án cấp dưới có nghĩa vụ phải thực hiện các án lệ này, nếu không các bản án của các tòa cấp dưới có thể bị giám đốc thẩm.

Ở Ý, thẩm quyền xây dựng án lệ được giao cho tòa án bảo hiến để đảm bảo cơ chế tập trung quyền lực ở Trung ương. Ở Tây Ban Nha, chịu ảnh hưởng của luật La Mã, vẫn coi án lệ như một nguồn luật, có giá trị bổ sung trật tự pháp lý thông qua luận thuyết được tòa án tối cao áp dụng trong quá trình giải thích và áp dụng luật, tập quán, kể cả các nguyên tắc chung của luật pháp. Ở Anh Quốc, vai trò sáng tạo của án lệ rất quan trọng, được thể hiện theo quy tắc của tiền lệ pháp đã xuất hiện từ đầu thế kỷ  thứ XIX được khái niệm là “Qui tắc đã được lập ra trong một phán quyết ban hành trước đó chỉ có hiệu lực ràng buộc đối với các thẩm phán khi xét xử các vụ kiện tương tự” v.v...

Riêng ở Việt Nam, thông qua thực tiễn hoạt động xét xử của hệ thống tòa án, có thể nói các văn bản phát biểu quan điểm xét xử của tòa án nhân dân tối cao khi trả lời các đề nghị của tòa án cấp dưới về việc hướng dẫn vận dụng qui phạm pháp luật trong xét xử ở một số vụ án cụ thể có thể coi như là án lệ, để các tòa án cấp dưới rút kinh nghiệm trong xét xử, nhưng chưa có một quy định bắt buộc rõ ràng để các tòa án cấp dưới phải tuân thủ trong việc xét xử các vụ án tương tự.

Ở Việt Nam, có ưu điểm là hàng năm Tòa án Nhân dân Tối cao đều có tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn, hướng dẫn công tác xét xử cho các cấp Tòa án trong việc vận dụng các qui phạm pháp luật trong việc xét xử, nhưng việc chờ đợi các hướng dẫn chỉ đạo này không đảm bảo tính kịp thời và nhiều khi tính ràng buộc việc tuân thủ cũng không được qui định chặt chẽ. Có lẽ chính vì nguyên nhân về yếu tố thời gian chậm trễ và tính bắt buộc tuân thủ không được thể hiện chặt chẽ, cụ thể mà nhiều vụ án ở VN bị giám đốc thẩm, thậm chí giám đốc thẩm hơi tràn lan.

Thỉnh thoảng ở nước ta, cũng đã có ban hành những thông tư liên tịch giữa các ngành tòa án tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ công an, Bộ Tư pháp (như một văn bản lập quy dưới luật) để giải thích, hướng dẫn, chỉ đạo cho các cơ quan tố tụng của ngành tư pháp (trong đó có tòa án) trong việc giải quyết vụ án có liên quan việc vận dụng cụ thể các qui phạm pháp luật, các văn bản pháp luật. Việc làm đó của các cơ quan ngành tư pháp cũng có mặt tích cực nhất định, nhưng rõ ràng chưa thể hiện được tính thực tiễn, sinh động, cụ thể, kịp thời so với việc xây dựng và áp dụng án lệ theo kinh nghiệm của các nước.

Nên chăng, đã đến lúc trên tiến trình cải cách và đổi mới hệ thống pháp luật và hệ thống tư pháp, xét xử của VN hiện nay, trong khi chờ đợi sự chuyển đổi cụ thể hệ thống tòa án của nước ta, cần sớm đưa vào thí điểm việc xây dựng và áp dụng án lệ, để tạo điều kiện cho tòa án và các thẩm phán tích cực tham gia sáng tạo, bổ sung luật pháp trong quá trình kinh qua thực tiễn xét xử của họ, vốn là một yêu cầu thực tiễn của tình trạng thiếu luật hoặc có nhiều khe hở, sơ sót của các văn bản pháp luật, hoặc tính lạc hậu nhanh của một số văn bản luật pháp không theo kịp thực tiễn phát triển quá nhanh, có tính bùng nổ của nền kinh tế xã hội của đất nước. Ngoài vai trò của TANDTC nên chọn những tòa án nhân dân cấp tỉnh vốn có đội ngũ thẩm phán tài giỏi, lão làng được giao thẩm quyền thí điểm đưa ra các bản án điển hình (trong quá trình xét xử thực tiễn các vụ án) được coi như án lệ, mẫu mực bắt buộc các tòa án cấp dưới phải tuân thủ vận dụng trong các vụ án tương tự mà các tòa này thụ lý.

Và cũng nên cho in ấn, xuất bản một loại “tập san pháp lý” để tập hợp những bản án điển hình vận dụng sáng tạo luật pháp, những án lệ này để làm tài liệu pháp lý thực tiễn để các tòa án, các thẩm phán nghiên cứu vận dụng, kể cả đội ngũ luật sư cũng cần qua đó học tập, nâng cao kiến thức luật pháp của mình trong dịch vụ bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc bảo vệ thân chủ của mình trước tòa vậy. Yêu cầu xây dựng án lệ cũng đi đôi với việc đổi mới việc xây dựng, đào tạo đội ngũ thẩm phán chuyên nghiệp, lâu năm, thâm niên yêu nghề và được sống với “nghề thẩm phán” suốt đời (chỉ ngoại trừ khi sức khỏe, cả về thể chất hay tinh thần không cho phép đảm nhiệm), chứ không về hưu theo tuổi giống qui định công chức như hiện nay. Đó cũng là một đòi hỏi rất cần thiết về yêu cầu vận dụng sáng tạo, thực tiễn trong công tác xét xử của thẩm phán và đảm bảo các án lệ được chất lượng. Tất cả đòi hỏi phải tiến tới một định chế cụ thể, có giá trị pháp luật, mới thực hiện được, dù ở giai đoạn thí điểm cũng vậy.
Tài tham khảo:
1. Các hệ thống Pháp luật cơ bản trên thế giới (của tác giả Michel Fromont, Giáo sư đại học Panthéon Sorbon – Paris I). Dịch giả: Trương Quang Dũng, hiệu đính: Nguyễn Văn Bình (do nhà Pháp luật Việt Pháp và NXB Tư pháp HN ấn hành 2006)
2. Danh từ pháp luật lược giải, tác giả: Trần Thúc Linh, thẩm phán Tòa Thượng thẩm Sài Gòn cũ, nhà sách Khai Trí ấn hành năm 1965.
3. Bộ Dân Luật (do tối cao pháp viện của chính quyền Sài Gòn xuất bản năm 1973)
4. Tự điển pháp luật Anh-Việt, tác giả: nhóm luật sư, Thẩm phán, chuyên gia kinh tế: Nguyễn Thế Kỳ, Phạm Quốc Toản, Lương Hữu Định, Quốc Minh Vương, Mary C.Downey, Cham W.Louie (NXB Khoa học xã hội – 1994).

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐOÀN LUẬT SƯ TPHCM

Trích dẫn từ:

‘http://www.hcmcbar.org/index.php?option=com_contentlist&task=detail&cat=4&type=2&id=224

11 thg 7, 2009

LUẬT SƯ – TỪ THỰC TẾ NHÌN LẠI

ÁI CHÂN – HOÀI NAM

1. Lượng: thiếu, chất: mỏng

Nghề luật sư (LS) là một hoạt động bổ trợ tư pháp, có vai trò đặc biệt quan trọng trong Nhà nước pháp quyền và trong xã hội nói chung. Giữ vị trí tối cần thiết như vậy, nhưng cả nước hiện chỉ có 5.334 LS và 2.000 người tập sự hành nghề LS trên tất cả các lĩnh vực có liên quan đến pháp luật từ dân sự, hình sự, kinh tế, hành chính, đến thương mại, đầu tư, kinh doanh. Tính ra, tỷ lệ LS trên số dân ở Việt Nam là 1/20.700. Tỷ lệ này quá thấp so với một số nước trong khu vực và trên thế giới, chẳng hạn ở Singapore là 1/1.000, ở Mỹ là 1/250… Bên cạnh đó, chất lượng của đội ngũ LS cũng còn không ít điểm hạn chế.

Thiếu hụt đầu vào lẫn đầu ra

Khá nhiều người trong xã hội hiện nay có quan niệm: muốn làm LS phải đi học luật, và đã học luật chắc chắn sẽ là LS. Vế đầu của quan niệm này đúng, bởi tất cả LS đều phải có bằng cử nhân luật, cũng như muốn là bác sĩ thì phải qua 6 năm đào tạo trong trường đại học y. Còn vế thứ hai thì sai. Theo PGS, TS Mai Hồng Quỳ, Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TPHCM, một sinh viên vừa tốt nghiệp trường luật đòi hỏi trở thành LS ngay là điều không thể. Một thực tế là trong thời gian 4 năm học ở trường đại học luật, sinh viên không được học môn học nào về kỹ năng và đạo đức hành nghề của nghề LS. “LS là một nghề và được pháp luật điều chỉnh việc hành nghề của họ. Ở trường chúng tôi không đào tạo LS mà chỉ đào tạo cử nhân luật” – PGS, TS Mai Hồng Quỳ nhấn mạnh.

Qua tìm hiểu, mỗi năm Trường Đại học Luật TPHCM cho “ra lò” khoảng 2.000 cử nhân luật, trong đó phân nửa thuộc hệ tại chức. Ở phía Bắc, Trường Đại học Luật Hà Nội bằng nhiều hình thức đào tạo khác nhau cũng chỉ cho tốt nghiệp hơn 2.000 cử nhân luật/năm. Số lượng sinh viên khoa luật của gần chục trường đại học khác trong cả nước mỗi năm tốt nghiệp khoảng 6.000 người. Và chỉ 10% trong số này đi theo nghề LS. Nghĩa là mỗi năm, đầu vào để đào tạo nghề LS chỉ khoảng 1.000 người. Trong khi đó, theo Đề án phát triển đội ngũ LS phục vụ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đến năm 2015 cả nước cần đến 20.000 LS, và ít nhất 10% số LS này là LS chuyên sâu trong lĩnh vực thương mại quốc tế.

24 thg 6, 2009

TÍNH CÔNG KHAI CỦA PHIÊN TÒA GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ

THS. MAI NGỌC DƯƠNG – Văn phòng Chính phủ

Nguyên tắc toà án xét xử công khai được quy định tại Điều 131 của Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hoá trong Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002. Điều 7 của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 quy định: “Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ”.

Nguyên tắc này bảo đảm cho nhân dân giám sát được hoạt động xét xử của toà án, đồng thời tạo điều kiện cho toà án thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử . Tuy nhiên hiện nay, trong phiên toà giám đốc thẩm dân sự, nguyên tắc xét xử công khai chưa hoàn toàn được áp dụng, sự tham gia của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa còn hạn chế.

1. Thủ tục của phiên toà giám đốc thẩm không như một phiên toà

Phiên toà giám đốc thẩm dân sự là phiên toà do Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà dân sự (hoặc Toà kinh tế, Toà lao động) Toà án nhân dân tối cao và Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tiến hành để xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

Theo quy định tại Điều 295 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS), thì phiên toà giám đốc thẩm diễn ra theo thủ tục sau:

20 thg 7, 2008

THÔNG BÁO VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

notary2 THS. LÊ ANH TUẤN - Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp

Thông báo được hiểu là một hình thức chuyển tải nội dung thông tin nhất định đến đối tượng được thông tin, nhằm làm cho đối tượng được nhận thông tin biết được thông tin để thực hiện những hành vi nhất định. Trong hoạt động thi hành án dân sự, việc thông báo những thông tin về thi hành án đòi hỏi phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về nội dung, đối tượng thông báo về thi hành án không phải trong trường hợp nào cũng như nhau và do người có thẩm quyền thực hiện và theo hình thức nhất định.

1. Cơ sở pháp lý

Có thể nói thông báo về thi hành án là việc người có thẩm quyền thực hiện việc chuyển tải giấy tờ chứa đựng thông tin về thi hành án cho người được thông báo theo trình tự, thủ tục nhất định, nhằm bảo đảm cho việc thi hành án đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tham gia vào việc thi hành án. Các giấy tờ về thi hành án được thông báo bằng nhiều hình thức khác nhau và được chuyển tải đến đối tượng được thông báo có thể trực tiếp bằng những giấy tờ đó hoặc chỉ là nội dung của những giấy tờ đó.

Việc thông báo thông tin về thi hành án cho các đương sự biết và tham gia vào việc thi hành án nhằm tạo điều kiện để kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Đây là biện pháp thể hiện sự dân chủ với dân trong hoạt động của cơ quan thi hành án, để “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” hoạt động của Chấp hành viên, cán bộ thi hành án; đồng thời bảo đảm quyền được thông tin, quyền được biết và tham gia vào việc thi hành án của các đương sự mà pháp luật đã quy định. Việc thông báo cho các đương sự biết về thi hành án được thực hiện đúng quy định sẽ hạn chế được những khiếu nại, tố cáo không đúng pháp luật về thi hành án của đương sự; giảm thiểu hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án của cơ quan thi hành án và cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền.

14 thg 7, 2008

CÔNG NHẬN VÀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI ĐÃ BỊ HỦY TẠI NƯỚC GỐC THEO CÔNG ƯỚC NEWYORK NĂM 1958: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

ĐẶNG HOÀNG OANH - Vụ Hợp tác quốc tế - Bộ Tư pháp

 1. Giới thiệu vấn đề:

Công ước New York năm 1958 của Liên hợp quốc về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài[1](sau đây gọi là Công ước) là một điều ước quốc tế quan trọng nhất trong lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế. Với hơn 4 thập kỷ huy hoàng cùng 141 quốc gia thành viên[2], Công ước đã minh chứng một công cụ hiện đại cho việc công nhận và thi hành thoả thuận trọng tài và quyết định trọng tài một cách hữu hiệu và thành công hơn bất kỳ một công cụ nào trong lĩnh vực này. 

Tuy nhiên, mặc dù bộ máy toàn cầu về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài đã được thiết lập và vận hành một cách có hiệu quả, nhưng nó vẫn không thể tránh khỏi những tồn tại nhất định sau 50 năm thi hành.  Rất nhiều điểm bất cập của Công ước đã đến lúc cần được loại bỏ để thay thế bằng những quy định mới phù hợp hơn. Trong khi việc sửa đổi Công ước chưa được tiến hành, thì sự thống nhất giữa các nước thành viên về cách hiểu và áp dụng những điều khoản của Công ước là rất cần thiết.  Việc áp dụng đúng, đồng thời phần nào linh hoạt những quy định của Công ước cũng đặc biệt quan trọng với Việt Nam, nhất là trong trường hợp pháp luật nước ta vẫn còn nhiều điểm chưa tương đồng với pháp luật quốc tế, mà trong trường hợp này là bản thân Công ước.

29 thg 6, 2008

VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

TƯỞNG DUY LƯỢNG - Chánh tòa Dân sự, TAND TC

20071106032134_my rights and responsibilities I. Vài nét về công tác bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam trong thời gian qua
1. Tình hình xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng
Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, không ngày nào không xuất hiện các thông tin về các trường hợp quyền lợi của người tiêu dùng bị xâm phạm. Trong số đó, phải kể đến các bài báo về các vụ ngộ độc thực phẩm tập thể, có nơi cả trăm người phải vào bệnh viện, sự lưu hành của các loại rau được trồng trong môi trường bị ô nhiễm, thịt gia súc, gia cầm của một số cơ sở sản xuất còn dư lượng kháng sinh, các chất tăng trọng, các loại hải sản có ướp chất độc hại, các loại mỹ phẩm kém chất lượng được bán trôi nổi trên thị trường, các loại giò chả có hàn the, phở, bún có phooc-môn, các loại rau quả được xử lý bởi hóa chất độc hại, các loại sữa kém chất lượng v.v.

22 thg 6, 2008

GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TRONG GIẢi QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH TẾ

 TS. PHAN VĂN TÍNH - Viện trưởng Viện Rised

image Nền kinh tế nước ta đã chuyển sang mô hình phát triển theo thể chế thị trường. Trong điều kiện mới này, tranh chấp kinh tế không những đơn thuần là tranh chấp giữa hai chủ thể giao kết hợp đồng kinh tế, mà còn có những tranh chấp dưới các dạng khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh như tranh chấp giữa các thành viên trong công ty, tranh chấp về cổ phần cổ phiếu, tranh chấp giữa công ty và các thành viên của mình…

Theo Luật Thương mại của nước CHXHCN Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thì hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Như vậy, tranh chấp kinh tế là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại. Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển thì tranh chấp kinh tế ngày càng tăng lên.

Cơ sở pháp lý trong giải quyết các tranh chấp kinh tế

Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp kinh tế được thực hiện bằng một trong hai con đường: Một là, giải quyết tại Toà án Nhân dân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; hai là, giải quyết bằng trọng tài theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại, Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15/01/2004 của Chính phủ.

22 thg 2, 2008

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HOẠT ĐỘNG HÒA GIẢI VỤ ÁN DÂN SỰ Ở THỦ TỤC SƠ THẨM

THS. ĐẶNG THANH HOA  - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Hòa giải trong tố tụng dân sự, nguyên tắc đặc trưng của ngành luật Tố tụng dân sự, đã được tiếp tục ghi nhận và hoàn thiện tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2005 (BLTTDS). Việc quán triệt, củng cố và phát triển nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự đã góp phần đưa Tòa án về đúng vị trí và vai trò của mình khi giải quyết các tranh chấp dân sự (tranh chấp “tư”), đó chính là vai trò trung gian, trọng tài, giải quyết các tranh chấp dân sự trên nền tảng sự chủ động thỏa thuận của đôi bên đương sự. Chúng tôi hoàn toàn thống nhất với quan điểm và ghi nhận của BLTTDS về vấn đề này. Bởi lẽ, các tranh chấp về dân sự phần lớn được hình thành trên cơ sở bình đẳng, thỏa thuận của chính các chủ thể trong quan hệ đó (khái niệm tranh chấp dân sự được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: các tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động). Vì vậy, một khi có xảy ra tranh chấp thì không ai khác mà chính các chủ thể này phải tiến hành thương lượng để đi đến thống nhất nhằm hóa giải các mâu thuẫn, tranh chấp và Toa án chỉ phải ra quyết định giải quyết các tranh chấp một khi các bên không thể thỏa thuận được với nhau. Cũng chính vì vậy, quyền hòa giải - thỏa thuận của các đương sự được thực hiện xuyên suốt trong quá trình tố tụng dân sự từ lúc Tòa án thụ lý vụ án dân sự, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, cho đến khi mở phiên tòa sơ thẩm và cả trong thủ tục phúc thẩm... Song song đó, nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án cũng đã được BLTTDS quy định cụ thể đối với hoạt động hòa giải: nguyên tắc tiến hành hòa giải (Điều 180); thông báo về phiên hòa giải (Điều 183); nội dung hòa giải, biên bản hòa giải và việc ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 185, 186, 187),...

Hoạt động hòa giải theo quy định của BLTTDS hiện nay có thể khái quát bằng 3 hoạt động chính: Hoạt động chuẩn bị phiên hòa giải; hoạt động tiến hành phiên hòa giải và hoạt động ra quyết định công nhận sư thỏa thuận của các đương sự (sơ thẩm) hoặc ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận của đương sự (phúc thẩm). Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập quy định của BLTTDS về thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm bao gồm các hoạt động tiến hành phiên hòa giải và hoạt động ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Trên cơ sở giới thiệu và phân tích các quy định của pháp luật có liên quan, chúng tôi nêu lên một số ý kiến như những gợi ý cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc soạn thảo và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS:

1. Hoạt động tiến hành hòa giải: Được quy định cụ thể tại các Điều 184, 185 và 186 BLTTDS.

Điều 184 BLTTDS xác định cụ thể thành phần phiên hòa giải, bao gồm: “1. Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải.

2. Thư ký Tòa án ghi biên bản hòa giải.

3. Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự...”

Việc xác định cụ thể Thẩm phán phải tham gia hoạt động hòa giải với vai trò là “người chủ trì” phiên hòa giải đã chấm dứt một thực tế thường thấy trước đây: các Tòa án đã để cho thư ký tiến hành hoạt động hòa giải giữa các đương sự. Giải thích vì sao lại có thực trạng này? Có thể xuất phát từ nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau nhưng nguyên nhân quan trọng nhất chính là pháp luật về tố tụng dân sự, tố tung kinh tế và tố tụng lao động trước đây đều không có quy định về vấn đề này. BLTTDS đã kịp thời bổ sung và khắc phục được sai sót trên. Về mặt lý luận, đây là một quy định phù hợp với bản chất của hoạt động hòa giải - một hoạt động đòi hỏi người tiến hành phải có kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp cũng như những am hiểu nhất định về lĩnh vực cần hòa giải - hơn ai hết Thẩm phán chính là người thỏa mãn các điều kiện đó. Ngoài ra, kết quả của hoạt động hòa giải thành sẽ làm chấm dứt hoạt động tố tụng đối với một vụ án bằng quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Cùng với các loại quyết định khác được ra trước khi mở phiên tòa như quyêt định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, theo quy định của BLTTDS chỉ có Thẩm phán mới có thẩm quyền ra các loại quyết định này. Bên cạnh đó, việc BLTTDS xác định Thư ký Tòa án là “người ghi biên bản hòa giải” cũng đã cho thấy nhà làm luật xác định bắt buộc phải có sự tham gia đầy đủ và hỗ trợ lẫn nhau trong công việc của những người tiến hành tố tụng quan trọng trong việc giải quyêt vụ án nói chung và trong hoạt động hòa giải nói riêng đó là Thẩm phán và Thư ký Tòa án. Quy định này một mặt vừa đảm bảo nâng cao trình độ, nghiệp vụ cho các thư ký qua việc học hỏi kinh nghiệm giải quyết vụ án dân sư từ Thẩm phán mặt khác góp phần nâng cao hiệu quả thành công của các phiên hòa giải do có sự phân công, hỗ trợ công việc hợp lý. Tuy nhiên, thực tế tại các Tòa án việc thực hiện triệt để quy định này còn gặp nhiều khó khăn khi mà lực lượng Thẩm phán, Thư ký Tòa án còn quá mỏng so với lượng án dân sự quá lớn cùng với áp lực công việc về giải quyết vụ án dân sự đúng thời hạn do luật định là những vấn đề nhất thiết phải được quan tâm và tháo gỡ. Thực trạng hiện nay đã có Tòa án trong hoạt động hòa giải vụ án dân sự chỉ cho một Thẩm phán tiến hành chủ trì đồng thời cũng là người ghi biên bản hòa giải hoặc chỉ cho Thư ký tòa án tiến hành và sau đó Thẩm phán bổ sung chữ ký của mình vào biên bản hòa giải. Chúng tôi cho rằng đó là những giải pháp tình thế vì nhiều lý do áp lực công việc, thói quen áp dụng quy định theo các pháp lệnh trước đây,... nhưng chắc chắn các Thẩm phán hoặc Thư ký tòa án đều nhận thức đây là những hoạt động trái với quy định của pháp luật. Theo chúng tôi không thể chấp nhận được một khi đã có sự quy định hết sức cụ thể tại BLTTDS nhưng làm thế nào để xóa bỏ tình trạng nói trên, đây là một câu hỏi đồng thời cũng là một thách thức đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm sao mau chóng xây dựng lực lượng cán bộ Tòa án dày về lượng và mạnh về chất để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công việc hết sức đặc thù này: giải quyết vụ án dân sự vì quyền lợi của các đương sự.

Ngoài chủ thể là người tiến hành tố tụng trong thành phần của phiên hòa giải, Điều 184 còn đề cập đến các chủ thể thuộc nhóm những người tham gia tố tụng, đặc biệt là đương sự - chủ thể chính của quan hệ pháp luật có tranh chấp. Tiếp đến, người đại diện của đương sự trong trường hợp họ là đại diện hợp pháp theo pháp luật tố tụng dân sự và người phiên dịch nếu đương sự không biết tiếng Việt. Tuy nhiên, tại điều luật này đã không thấy đề cập đến “người bảo vệ quyền lợi cho đương sự” - một chủ thể cũng được quyền và có nghĩa vụ tham gia vào phiên hòa giải. Nội dung này được ghi nhận tại khoản 3 Điều 64 BLTTDS quy định về quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự. Cần có văn bản hướng dẫn xác nhận lại sự tham gia của họ trong thành phần phiên hòa giải nhằm tránh việc áp dụng pháp luật một cách máy móc khi thực tế có Tòa án không cho phép người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự tham gia vào phiên hòa giải chỉ vì Điều 184 BLTTDS không quy định. Ít nhiều việc áp dụng pháp luật như trên đã làm hạn chế việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính các đương sự trong vụ án.

Điều 186 quy định về biên bản hòa giải:

“1. Việc hòa giải được Thư ký tòa án ghi vào biên bản. Biên bản hòa giải phai có nội dung sau đây:

a/ Ngày, tháng, năm tiến hành phiên hòa giải;

b/ Địa điểm tiến hành phiên hòa giải;

c/ Thành phần tham gia phiên hòa giải;

d/ Ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;

đ/ Những nội dung đã được đương sự thỏa thuận, không thỏa thuận.

2. Biên bản hòa giải phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hòa giải, chữ ký của Thư ký tòa án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải.

Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Biên bản này được gửi cho các đương sự tham gia hòa giải.

Liên quan đến quy định về biên bản hòa giải chúng tôi có một số ý kiến sau:

- Có tất cả bao nhiêu biên bản hòa giải đối với một vụ án dân sự?

Ý kiến thứ nhất cho rằng chỉ cần lập một biên bản hòa giải ghi nhận tất cả các nội dung theo quy định là phù hợp và giản tiện. Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau thì phần kết của biên bản sẽ xác định nội dung: “Biên bản hòa giải này có giá trị như một biên bản hòa giải thành là căn cứ để Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận cho các đương sự theo quy định của BLTTDS”. Ngược lại, nếu các đương sự không thỏa thuận được thì đây là biên bản hòa giải không thành và làm cơ sở cho Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Như vậy, Tòa án chỉ cần ghi nhận tất cả những nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 186 và trên cơ sở đó xác định biên bản hòa giải không thành này làm căn cứ cho việc ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Ý kiến thứ hai xác định cần thiết phải lập hai loại biên bản hòa giải là biên bản hòa giải ghi nhận tất cả các diễn tiến của phiên hòa giải và biên bản thứ hai là biên bản hòa giải thành, nếu trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau. Nội dung của loại biên bản thứ hai chỉ ghi nhận những gì đương sự thỏa thuận được với nhau và biên bản này Tòa án sẽ gửi cho các đương sự.

Căn cứ đoạn cuối khoản 2 Điều 186, theo chúng tôi phải hiểu quy định này theo hướng: lập hai loại biên bản hòa giải chỉ xảy ra khi các đương sự thỏa thuận được với nhau vì việc ghi nhận bằng một biên bản hòa giải trong trường hợp này mặc dù rất giản tiện và gọn nhẹ nhưng sẽ không đáp ứng các diễn tiến của những phiên hòa giải - là cơ sở để xác định việc hòa giải tiến hành có đúng với nguyên tắc mà pháp luật quy định hay không. Mặt khác, biên bản hòa giải thành phải được gửi cho các đương sự để họ có thời gian suy nghĩ và thay đổi ý kiến (nếu có); trên cơ sở các đương sự không có sự thay đổi ý kiến Tòa án mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Với trường hợp hòa giải không thành, Thẩm phán chỉ lập một loại biên bản làm cơ sở để Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Riêng những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được theo quy định của pháp luật (Điều 182), Thẩm phán cũng chỉ lập một loại biên bản làm cơ sở để ra một trong các quyết định tố tụng khác nhau theo quy định của BLTTDS (nội dung này được phân tích ở phần sau của bài viết).

- Biên bản hòa giải đối với vụ án ly hôn có gì khác biệt đối với biên bản hòa giải trong các vụ án dân sự khác?

Hiện vấn đề này cũng chưa được hướng dẫn cụ thể. Xuất phát từ tính đặc thù của vụ án ly hôn, cũng như thực tiễn các Tòa án tại Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng, chúng tôi kiến nghị hướng dẫn việc lập biên bản hòa giải đối với các vụ án ly hôn sẽ có những đặc thù nhất định về tên gọi và nội dung ghi nhận. Dựa vào mục đích của hoạt động hòa giải trong vụ án ly hôn là để “vợ chồng đoàn tụ”, từ đo có thể xảy ra các trường hợp cụ thể sau đây:

+ Một là, sau khi được tòa án tiến hành hòa giải hai vợ chồng đã đồng ý đoàn tụ. Tòa án cần lập 2 loại biên bản hòa giải trong trường hợp này là: Biên bản hòa giải chung ghi lại diễn tiến của các phiên hòa giải và biên bản hòa giải đoàn tụ thành. Từ đây Tòa án mới có cơ sở cho việc ra quyết định hòa giải đoàn tụ thành.

+ Hai là, nếu hai bên vợ chồng đều đồng ý ly hôn cũng như thỏa thuận được tất cả các vấn đề còn lại trong quan hệ hôn nhân đó theo quy định của LHNGĐ 2000 Tòa án ngoài việc lập biên bản hòa giải chung ghi phần diễn tiến và tại phần kết luận phải ghi nhận việc hòa giải đoàn tụ không thành thì cần lập tiếp loại biên bản thứ hai là biên bản công nhận sự thuận tình ly hôn. Đây là cơ sở để Tòa án ra quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn tương tự trường hợp ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sư theo quy định của pháp luật.

+ Ba là, trường hợp các bên không thỏa thuận được một trong các nội dung của quan hệ HNGĐ mặc dù đã chấp nhận ly hôn hoặc chỉ một bên vợ hoặc chồng đồng ý ly hôn thì Tòa án lập duy nhất biên bản hòa giải và ghi nhận tại cuối biên bản việc không thỏa thuận được hoặc hòa giải đoàn tụ không thành. Biên bản này làm cơ sở cho tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tóm lại, biên bản hòa giải là một loại văn bản hết sức quan trọng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Trên cơ sở về hình thức và nội dung biên bản hòa giải Tòa án mới tiếp tục hoàn tất các thủ thục cần thiết cho việc ra một trong các quyết định tố tung khác: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nhất thiết Tòa án tối cao cần quy định cụ thể có bao nhiêu loại biên bản cũng như mẫu biên bản thống nhất cho hoạt động này. Ngoài ra, một chi tiết nhỏ cần thiết bổ sung đó là quy định về việc ký tên của người đai diện cho đương sự (nếu có) vào biên bản hòa giải vì đây là chủ thể đã được xác định tại thành phần phiên hòa giải (Điều 184).

2. Hoạt động ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Được quy định tại các Điều 187 và 188 BLTTDS.

Khoản 1 và 2 Điều 187 quy định:

“1. Hết thời hạn bảy ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một thẩm phán được Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự...

2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương

sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án...” (Điều 187).

Việc không ghi nhận hậu quả pháp lý nếu các đương sự thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận trước đó tại khoản 1 Điều 184 là hợp lý vì điều khoản này chỉ quy định việc “ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự”. Nhưng trong tất cả các điều khoản còn lại của BLTTDS đều không ghi nhận hậu quả trên là thiếu sot cần thiết phải bổ sung hướng dẫn thực hiện. Trước đây trong quy định của PLTTGQCVADS có quy định rất rõ tại khoản 2 Điều 44 “... Nếu trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà có đương sự thay đổi ý kiến... thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử”. Tại các Tòa án hiện nay cũng đang áp dụng như quy định của PLTTGQCVADS, chúng tôi cho rằng việc áp dụng như vậy là phù hợp tuy nhiên cần thiết nội dung trên phải được hợp pháp hóa bởi một văn bản hướng dẫn cụ thể BLTTDS có giá trị pháp lý. Nội dung văn bản này cần ghi nhận cách giải quyết các biên bản đã lập trước đó khi đương sự thay đổi ý kiến để lưu vào hồ sơ vụ án (biên bản hòa giải, biên bản hòa giải thành...).

Quy định tại khoản 2 Điều 187 về việc thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu họ thỏa thuận được với nhau về toàn bộ vụ án. Nhưng thế nào là thỏa thuận toàn bộ vụ án? Có quan điểm nêu: chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu họ thỏa thuận được mọi vấn đề trong vụ án kể cả việc thỏa thuận mức án phí mà mỗi bên phải đóng. Quan điểm khác thì cho rằng chỉ cần đương sự thỏa thuận được với nhau về các quan hệ pháp luật đang tranh chấp, không cần thiết phải thỏa thuận về mức án phí của mỗi bên vì chuyện đó sẽ do Tòa án quyết định. Theo chúng tôi dù chấp nhận quan điểm nào cũng cần có hướng dẫn cụ thể, bởi lẽ không phải tất cả các đương sự đều am hiểu pháp luật mà nhất là quy định của pháp luật về án phí. Nên quy định thống nhất: trong mọi trường hợp tại phiên hòa giải Thẩm phán cần giới thiệu và giải thích cho đương sự biết về khoản tiền án phí mà họ nộp nếu hòa giải thành hoặc phải đưa vụ án ra xét xử. Từ đó Thẩm phán hướng dẫn cho các đương sự thương lượng về phần án phí các bên nhận nộp. Nếu như các đương sự vẫn không thỏa thuận được mà yêu cầu Tòa án quyết định mức án phí cho mỗi bên theo quy định của pháp luật thì cần hướng dẫn cho phép Tòa án ghi nhận ngay nội dung này tại biên bản hòa giải thành và trong quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự sau đó. Tránh trường hợp chỉ vì các đương sự không thỏa thuận được mà Tòa án phải mở phiên tòa xét xử chỉ để quyết định về vấn đề án phí.

Thủ tục hòa giải khi trong một vụ án co nhiều đương sự:

Khoản 3 Điều 184 quy định: “Trong một vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt trong phiên hòa giải nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hoa giải”.

Khoản 3 Điều 187 quy định: “Trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 184 của Bộ luật này mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định nếu không ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự vắng mặt. Trong trường hợp thỏa thuận của họ ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản”.

Khoản 3 Điều 184 đã xác định Thẩm phán chỉ tiến hành hòa giải khi thỏa mãn cả hai điều kiện: một là các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và hai là việc hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự. Chúng tôi cho rằng việc quy định điều kiện thứ hai là không cần thiết. Bởi lẽ làm thế nào để xác định có hay không việc hòa giải ảnh hưởng quyền và nghĩa vụ của đương sự vì lúc này việc thỏa thuận giữa các đương sự chưa xảy ra. Ngoài ra, nếu ghi nhận điều kiện này tất yếu sẽ loại trừ việc các đương sự có mặt thỏa thuận với nhau ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt – nội dung quy định tại khoản 3 Điều 187. Cũng tại khoản 3 Điều 187 cho thấy pháp luật không cấm các đương sự có mặt thỏa thuận các nội dung ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự vì nếu có ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự vắng mặt thì Thẩm phán sau khi tiến hành hòa giải phải gửi biên bản hòa giải cho đương sự vắng mặt để lấy ý kiến của họ về vấn đề đa hòa giải.

Tiếp theo, tại đoạn cuối khoản 2 Điều 184 quy định nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải. Theo chúng tôi, trường hợp này nên giải thích rõ chỉ cần một trong các đương sự yêu cầu hoãn hay phải tất cả các đương sự có mặt yêu cầu thì Thẩm phán mới hoãn phiên hòa giải? Việc hoãn này được diễn ra bao nhiêu lần, có khống chế số lần hay không? Liên quan việc hoãn phiên hòa giải chúng tôi muốn đề cập đến quy định tại Điều 182 về những trường hợp không hòa giải được và hậu quả pháp lý cho từng trường hợp. Cụ thể sẽ hoãn phiên hòa giải hay đưa vụ án ra xét xử? Nhiều y kiến cho rằng nếu không tiến hành hòa giải được thì Thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Theo chúng tôi mặc dù Điều 182 không quy định hậu quả pháp lý cụ thể cho từng trường hợp hòa giải không được nhưng điều này đã được ghi nhận tại các điều luật khác của BLTTDS. Cụ thể: Nếu rơi vào trường hợp quy định tại khoản 1 thì áp dụng quy định của khoản 2 Điều 60 và khoản 2 Điều 200, Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử; đối vơi trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 182: Thẩm phán hoãn phiên hòa giải một lần sau đó nếu đương sự vẫn vắng mặt có lý do chính đáng thì tùy thuộc đương sự đó là ai mà Thẩm phán ra quyết định cho phù hợp (Ví dụ: nếu đương sự là bị đơn triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì khi đó đã rơi vào khoản 1 Điều 182 và thẩm phán sẽ đưa vụ án ra xét xử; còn nếu người vắng mặt là nguyên đơn thì đây là căn cứ để Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân dự theo quy định tại khoản e Điều 192...). Riêng với trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 182 theo chúng tôi Thẩm phán sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Trở lại với quy định tại khoản 2 Điều 187, với vụ án có nhiều đương sự mà mỗi đương sự có yêu cầu độc lập với các đương sự khác trong vụ án, khả năng xảy ra trường hợp vừa có quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có mặt hòa giải thành, vưa có quyết định đưa vụ án ra xét xử với những đương sự vắng mặt. Quy định trên có mâu thuẫn với quy định của BLTTDS tại khoản 2 Điều 179? Khi mà Tòa án chỉ được “...ra một trong các quyết định...”, có nghĩa là chỉ có thể có một trong hai quyết định nêu trên đối với một vụ án. Vấn đề này, theo chúng tôi, cần cân nhắc khi hướng dẫn áp dụng...

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 4/2005

18 thg 2, 2008

THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THS. Bùi Thị Huyền - Khoa Luật dân sự - Đại học Luật Hà Nội

Thi hành án là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà nước nhằm đưa các bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế. Hoạt động thi hành án một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, mặt khác nó là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại các quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội và công dân khi bị xâm hại. Hiệu quả của hoạt động thi hành án phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án.

Trên cơ sở đường lối đổi mới của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp, Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 đã chỉ rõ cần “ Xây dựng Bộ luật thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực thi hành án”. Vì vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành và thực tiễn thi hành án dân sự, từ đó đóng góp các ý kiến cho vào việc xây dựng trình tự, thủ tục thi hành án khoa học, hợp lí hơn, có tính đến các đặc thù của từng loại hình thi hành án, khắc phục được những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 (viết tắt là PLTHADS) là vấn đề rất quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án.

1. Về cơ cấu các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự

Những quy định về thủ tục thi hành án hiện nay được quy định tại Chương 3 PLTHADS gồm 19 điều áp dụng chung cho cả thi hành án dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động và phần dân sự trong bản án và hành chính. Có thể thấy, so với tính chất phức tạp và đa dạng của việc thi hành các bản án, quyết định dân sự ; hôn nhân và gia đình; kinh doanh thương mại ; lao động ; các quyết định về tài sản trong các bản án về hình sự, hành chính và quyết định trọng tài thương mại thì các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án trong PLTHADS là chưa tương xứng, chưa tính đến đặc thù của từng loại việc, cho nên chưa đáp ứng được yêu cầu của việc thi hành mỗi loại án cụ thể này. Đặc điểm của đối tượng thi hành án dân sự là các quyết định dân sự (theo nghĩa rộng) mang tính chất tài sản và nhân thân ; còn đặc điểm của thi hành án hình sự là hình phạt và các biện pháp tư pháp khác ; thi hành án hành chính là thi hành các quyết định liên quan đến các cơ quan nhà nước. Vì vậy, các quy định về thủ tục thi hành án dân sự trong Bộ luật thi hành án (viết tắt là BLTHA) phải tính đế những đặc điểm chung của các loại bản án, quyết định đó, đồng thời phải tính đến đặc thù của từng loại bản án, quyết định. Vì vậy, các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án trong BLTHA cần phải tách bạch thành hai phần khác nhau : phần những quy định chung về thủ tục thi hành án và phần những quy định cụ thể về thủ tục thi hành án đối từng loại thủ tục thi hành án dân sự, thi hành án kinh doanh, thương mại, thi hành án lao động và thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự và hành chính. Cách quy định này về mặt khoa học sẽ rất rõ ràng và thực tế các cơ quan thi hành án sẽ dễ áp dụng.

Trong phần những quy định chung về thủ tục thi hành án là phần cần quy định những vấn đề chung nhất để từ đó thực hiện thủ tục, cách thức thi hành bản án, quyết định dân sự như : bản án, quyết định dân sự có hiệu lực thi hành ; căn cứ thi hành án ; thời hiệu thi hành án ; thẩm quyền ra quyết định thi hành án ; thông báo quyết định thi hành án ; quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án ; quyền và nghĩa vụ của người phải thi hành án ; quyền và nghĩa vụ của người có quyền , nghĩa vụ liên quan … Phần thứ hai về thủ tục thi hành án của BLTHA, cần chia thành các chương, mỗi chương quy định về đặc thù của từng loại hình thi hành án. Theo chúng tôi có thể chia thành các chương sau: Thủ tục thi hành án dân sự và hôn nhân gia đình ; thủ tục thi hành án kinh doanh thương mại (bao gồm việc thi hành các bản án của cả tòa án và quyết định của trọng tài) ; thủ tục thi hành án phá sản ; thủ tục thi hành án lao động ; thủ tục thi hành án hành chính ; thủ tục thi hành án hình sự.

2. Về việc cấp bản án, quyết định của tòa án

Bản án, quyết định của tòa án là cơ sở pháp lý để các đương sự thực hiện quyền yêu cầu thi hành án và để cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án. Cho nên, trách nhiệm cấp bản án, quyết định của tòa án cho đương sự và trách nhiệm chuyển giao bản án, quyết định của tòa án cho cơ quan thi hành án thuộc về tòa án đã tuyên bản án, quyết định đó. Thời hạn cấp, chuyển giao các loại bản án, quyết định được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng BLTHA, vấn đề có xác định rõ thời điểm mà Tòa án đã tuyên bản án, quyết định cấp bản án quyết định cho đương sự hay không là vấn đề có hai ý kiến khác nhau. Ý kiến thứ nhất, cho rằng cần thiết phải xác định rõ thời điểm tòa án cấp bản án, quyết định cho đương sự là thời điểm khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực thi hành như Điều 18 PLTHADS hiện nay ; việc không xác định rõ thời điểm toà án cấp bản án, quyết định có thể gây ra sự nhầm lẫn đối với một số toà án và đặc biệt đối với các đương sự. Ý kiến thứ hai cho rằng, việc xác định rõ thời điểm tòa án cấp bản án, quyết định cho đương sự là không cần thiết và thừa.

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai bởi các lý do sau. Bản án, quyết định dân sự của toà án có hiệu lực thi hành có thể là bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng có hiệu lực thi hành ngay. Việc xác định thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đối với các bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thường đơn giản vì đó là những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án hoặc ra quyết định. Còn đối với bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm chỉ có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị không bị ai kháng cáo, viện kiểm sát không kháng nghị. Việc xác định thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đối với loại bản án, quyết định này là vấn đề phức tạp.

Theo quy định tại Điều 245 của BLTTDS:

- Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự có mặt tại phiên toà. Đối với đương sự không có mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết;

- Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của toà án cấp sơ thẩm là bảy ngày, kể từ ngày người kháng cáo nhận được quyết định.

Về nguyên tắc, các chủ thể kháng cáo được thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định. Nếu kháng cáo ngoài thời hạn quy định của pháp luật là kháng cáo quá hạn. Theo Điều 247 BLTTDS thì sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, toà án sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình lí do kháng cáo quá hạn của người kháng cáo và tài liệu, chứng cứ nếu có cho toà án cấp phúc thẩm. Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo toà án cấp phúc thẩm thành lập hội đồng gồm ba thẩm phán để xem xét việc kháng cáo quá hạn. Khi hội đồng xét đơn kháng cáo quá hạn ra quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì bản án, quyết định đó sẽ chưa có hiệu lực pháp luật và bị xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Theo quy định tại Điều 252 BLTTDS, thời hạn kháng nghị đối với bản án của toà án cấp sơ thẩm của viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp viện kiểm sát không tham gia phiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án. Thời hạn kháng nghị quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ của toà án cấp sơ thẩm của viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười ngày, kể từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.

Như vậy, thời điểm bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối với mỗi đương sự có thể là khác nhau nhưng ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực thi hành sẽ là ngày mà không còn chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị và bản thân các đương sự không thể tự xác định được điều đó để yêu cầu toà án cấp bản án, quyết định có ghi để thi hành cho mình mà chỉ có toà án đã tuyên bản án, quyết định mới xác định được chính xác. Vì vậy, về nguyên tắc, toà án chỉ có thể cấp cho người được thi hành án, người phải thi hành án bản án, quyết định có ghi “để thi hành" khi bản án, quyết định đó đã có hiệu lực thi hành ; bản thân dấu giáp lai “để thi hành" của tòa án đã chứng tỏ bản án, quyết định đó đã có hiệu lực thi hành rồi nên việc nhắc lại thêm một lần nữa về kỹ thuật lập pháp là thừa Ngoài ra, cho đến thời điểm hiện nay và trong tương lai, các phán quyết của trọng tài thương mại cũng được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự nên BLTHA cần quy định cả việc cấp quyết định trọng tài của trung tâm trọng tài. Do đó, điểu luật về cấp bản án, quyết định của tòa án, quyết định của trọng tài cần quy định như sau: "Toà án đã tuyên bản án hoặc quyết định hoặc, trọng tài đã ra quyết định trọng tài đó phải cấp cho người được thi hành án, người phải thi hành án bản án, quyết định có ghi để thi hành... »

3. Về thủ tục yêu cầu thi hành án

Hiện nay, Điều 19 PLTHADS mới chỉ quy định về quyền yêu cầu thi hành án dân sự của người được thi hành án, người phải thi hành án. Tuy nhiên khi đương sự có đơn yêu cầu thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án chỉ ra quyết định thi hành án khi việc thực hiện quyền cầu của đương sự đáp ứng đủ các điều kiện do pháp luật quy định, bao gồm : người yêu cầu thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án ; yêu cầu thi hành án đối với bản án, quyết định dân sự có ghi “để thi hành", thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án ; còn thời hiệu thi hành án và đúng mẫu đơn yêu cầu thi hành án. Nhưng không phải người dân nào khi thực hiện yêu cầu thi hành án đều hiểu được các điều kiện đó gồm những vấn đề gì ? Để tạo điều kiên cho người dân khi thực hiện quyền yêu cầu thi hành án cũng như thuận lợi cho cơ quan thi hành án khi xét đơn yêu cầu, theo chúng tôi, trong phần chung về thủ tục thi hành án của BLTHA cần quy định điều luật về thủ tục yêu cầu thi hành án dân sự theo hướng như sau :

"1. Người yêu cầu thi hành án phải làm đơn gửi cơ quan thi hành án có thẩm quyền theo quy định tại Điều… của Bộ luật này.

2. Đơn yêu cầu thi hành án phải được gửi trong thời hiệu thi hành án.

3. Đơn yêu cầu thi hành án phải có các nội dung chính sau đây:

.....

4. Kèm theo đơn yêu cầu thi hành án là bản sao bản án, quyết định của tòa án, quyết định của trọng tài có ghi để thi hành và các tài liệu khác cần thiết cho việc thi hành án».

4. Thủ tục ra quyết định thi hành án và giải thích bản án, quyết định

Tại khoản 2 Điều 22 và Điều 23 PLTHADS quy định thời hạn ra quyết định thi hành án là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của toà án (trong trường hợp thi hành án chủ động) hoặc nhận được đơn yêu cầu thi hành án (trong trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu). Tuy nhiên, trên thực tế không ít trường hợp bản án, quyết định của toà án tuyên không rõ ràng hoặc có sai sót, cần phải có giải thích hoặc việc xét xử lại của toà án mới có thể thi hành án được. Tại Điều 382 BLTTDS quy định: "Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, toà án phải có văn bản giải thích… ". Do đó, thời hạn 5 ngày làm việc không thể đủ để cơ quan thi hành án làm công văn yêu cầu toà án giải thích và toà án trả lời cơ quan thi hành án. Nếu cơ quan thi hành án vẫn ra quyết định thi hành án theo đúng thời hạn sẽ dẫn đến việc cơ quan thi hành án tiếp tục thực hiện bản án, quyết định sai của toà án. Cách giải quyết sẽ hợp lí và phù hợp với thực tiễn trong trường hợp này sẽ là chờ kết quả giải thích của toà án sau đó mới ra quyết định thi hành án. Vì vậy, BLTHA cần quy định theo hướng: thời hạn ra quyết định thi hành án là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của toà án hoặc nhận được đơn yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp yêu cầu toà án giải thích bản án, quyết định.

5. Cần bổ sung quy định về xác minh trong thi hành án

Về nguyên tắc, việc thi hành án trước hết phải tôn trọng và khuyến khích sự tự nguyện của các đương sự. Chỉ sau khi hết thời hạn do chấp hành viên ấn định mà các đương sự có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án thì cơ quan thi hành án mới áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, trừ các trường hợp do pháp luật quy định. Vấn đề mấu chốt ở chỗ, cơ quan thi hành án phải xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì mới có thể nghĩ đến việc áp dụng biện pháp cưỡng chế gì và xây dựng kế hoạch tổ chức cưỡng chế. Xác minh trong thực tiễn thi hành án là vấn đề vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định việc thi hành án có thành công hay không. Hiện tại, PLTHADS không quy định về thủ tục xác minh trong thi hành án, các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này có đề cập đến một vài khía cạnh của thủ tục xác minh nhưng chưa đầy đủ, cụ thể. Thực tiễn hoạt động thi hành án, các cán bộ thi hành án cũng thường chỉ tiến hành xác minh qua kinh nghiệm, có cơ quan thi hành án xác minh trong thời hạn đương sự tự nguyện thi hành án, có cơ quan thi hành án xác minh khi hết thời hạn đương sự tự nguyện thi hành án... Do đó, cần bổ sung điều luật về xác minh trong thi hành án như thời hạn, thủ tục, chủ thể tiến hành việc xác minh…

6. Về quy định hoãn thi hành án

Theo điểm d khoản 1 Điều 26 PLTHADS, thủ trưởng cơ quan thi hành án có quyền ra quyết định hoãn thi hành án khi tài sản kê biên có tranh chấp mà đang được toà án thụ lí giải quyết theo đơn kiện của người có quyền, lợi ích liên quan. Điều đó có nghĩa trong trường hợp khi có tranh chấp về tài sản kê biên nhưng những người có quyền, lợi ích liên quan chưa khởi kiện hoặc khởi kiện nhưng toà án đang làm thủ tục thụ lí thì thủ trưởng cơ quan thi hành án cũng không có quyền hoãn thi hành án mà phải tiến hành các thủ tục thi hành án sau kê biên như xử lí tài sản kê biên, bán đấu giá. Quy định này coa ưu điểm là có thể đảm bảo cho việc tiến hành nhanh, tránh việc lợi dụng việc tranh chấp để kéo dài thời gian thi hành án ; nhưng ngược lại, nếu sau khi xử lí tài sản kê biên mà toà án thụ lí giải quyết tranh chấp và xác định tài sản đó không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án thì hậu quả sẽ rất khó khắc phục. Hơn nữa quy định tại điểm d khoản 1 Điều 26 PLTHADS là mâu thuẫn với quy định của khoản 5 Điều 41 PLTHADS. Khoản 5 Điều 41 PLTHADS quy định : « Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì chấp hành viên vẫn tiến hành kê biên tài sản và giải thích cho đương sự về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Hết thời hạn ba tháng, kể từ ngày kê biên mà không có người khởi kiện thì tài sản kê biên được xử lí để thi hành án ». Như vậy, khi có tranh chấp về tài sản kê biên, trong khoảng thời hạn 3 tháng, kể từ ngày kê biên việc thi hành án sẽ không thể thực hiện được mà cần hoãn lại để chờ xem đương sự có khởi kiện hay không, do đó cần bổ sung vào căn cứ hoãn thi hành án theo hướng : "Khi tài sản kê biên có tranh chấp, Chấp hành viên vẫn tiến hành kê biên tài sản và giải thích cho đương sự về quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự, cơ quan thi hành án sẽ hoãn thi hành án trong thời hạn ba tháng ; tranh chấp về tài sản kê biên đang được toà án thụ lí giải quyết theo đơn kiện của người có quyền, lợi ích liên quan".

Khoản 2 Điều 26 PLTHADS quy định: "Người có quyền kháng nghị bản án, quyết định của toà án có quyền yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm". Quy định này mâu thuẫn với quy định tại khoản 3 Điều 307 BLTTDS. Theo quy định của BLTTDS, người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền yêu cầu hoãn việc thi hành án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng không có quyền yêu cầu hoãn việc thi hành án để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Bởi căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là sai lầm, vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Để xác định bản án, quyết định có sai lầm, vi phạm pháp luật hay không, người có thẩm quyền kháng nghị chỉ cần căn cứ vào hồ sơ vụ việc. Những sai lầm, vi phạm pháp luật đó là thuộc về lỗi chủ quan của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng. Cho nên khi có nghi ngờ bản án, quyết định khả năng có sai lầm, vi phạm pháp luật người có thẩm quyền kháng nghị có quyền yêu cầu hoãn thi hành án để xem xét việc kháng nghị. Còn tình tiết mới là căn cứ kháng nghị tái thẩm là những tình tiết không có sẵn trong hồ sơ vụ án, muốn xác định được phải thông qua quá trình thu thập chứng cứ và xét xử lại. Vì vậy, người có thẩm quyền kháng nghị không thể yêu cầu hoãn thi hành án để xem xét việc kháng nghị do nghi ngờ khả năng có tình tiết mới. Việc xuất hiện tình tiết mới là do khách quan mang lại, nên khi có tình tiết mới, người có thẩm quyền kháng nghị sẽ thực hiện kháng nghị và ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án. Do đó, BLTHA cần quy định căn cứ hoãn thi hành án trong trường hợp này theo hướng: « Người có quyền kháng nghị bản án, quyết định của toà án có quyền yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi phát hiện bản án, quyết định có vi phạm pháp luật ».

Ngoài ra, trong quá trình xây dựng BLTHA, có quan điểm cho rằng (quan điểm này được đưa ra trong Dự thảo 17 BLTHADS), cần bổ sung trường hợp người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới liên quan đến bản án, quyết định đang thi hành mà người được thi hành án hoặc cơ quan thi hành án thấy cần đề nghị toà án giải quyết. Nếu quy định theo hướng này thì người được thi hành án hoặc thủ trưởng cơ quan thi hành án có quyền hoãn thi hành án khi cho rằng bản án, quyết định của toà án tuyên không đúng. Về nguyên tắc bản án, quyết định của toà án khi đã có hiệu lực pháp luật phải được các cá nhân, cơ quan, tổ chức tôn trọng và triệt để thi hành. Không ai có quyền cản trở việc thi hành bản án quyết định đó. Chỉ những người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mới có quyền yêu cầu hoãn việc thi hành án để xem xét việc kháng nghị hoặc yêu cầu tạm đình chỉ việc thi hành án đối với bản án, quyết định đó. Quy định đó nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của toà án, tránh việc trì hoãn thi hành án một cách tràn lan. Như vậy, nếu quy định người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định hoãn thi hành án trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới liên quan đến bản án, quyết định đang thi hành mà người được thi hành án hoặc cơ quan thi hành án thấy cần đề nghị toà án giải quyết sẽ là không hợp lí và mâu thuẫn với quy định của pháp luật tố tụng. Chúng tôi cho rằng, hướng giải quyết hợp lý trong trường hợp này sẽ là khi phát hiện căn cứ trên cơ quan thi hành án sẽ thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm biết để người có thẩm quyền kháng nghị xem xét việc kháng nghị và việc có hoãn thi hành án hay không là quyền của họ, đồng thời họ phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

6. Về việc tạm đình chỉ thi hành án

Khoản 2 Điều 27 PLTHADS quy định, thời hạn tạm đình chỉ thi hành án theo yêu cầu của người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực không quá sáu tháng, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án. Mục đích của việc tạm đình chỉ thi hành án trong trường hợp là chờ kết quả giám đốc thẩm. Nếu quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị thì cơ quan thi hành án sẽ tiếp tục thi hành bản án, quyết định đó. Nếu quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án, quyết định bị kháng nghị thì cơ quan thi hành án sẽ ra quyết định đình chỉ thi hành án. Vì vậy, thời hạn tạm đình chỉ thi hành án trong trường hợp này phải trùng với thời hạn xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Nhưng quy định này lại mâu thuẫn với quy định tại Điều 293 BLTTDS về thời hạn mở phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm: " Trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên toà để giám đốc thẩm vụ án". Tuy nhiên, trên thực tế không phải trong mọi trường hợp việc mở phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm đều được tiến hành đúng thời hạn, nhưng cơ quan thi hành án cũng không thể đưa bản án, quyết định đang chờ xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm ra thi hành. Do đó, BLTHA cần quy định thời hạn tạm đình chỉ thi hành án theo hướng: "Cơ quan thi hành án tạm đình chỉ thi hành án theo yêu cầu của người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực cho đến khi có kết quả xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm".

7. Về việc đình chỉ thi hành án

Khoản 2 Điều 28 PLTHADS quy định người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có quyền ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp : « Người được thi hành án chết mà quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế theo quy định của pháp luật ». Theo quy định của pháp luật dân sự, quyền và lợi ích không được chuyển giao cho người thừa kế khi một người chết là quyền và lợi ích gắn liền với nhân thân. Còn khi người được thi hành án chết, quyền và lợi ích về tài sản sẽ được chuyển giao cho người thừa kế của người được thi hành án. Nhưng Điều 28 PLTHADS không quy định đối với trường hợp người được thi hành án chết mà quyền và lợi ích theo bản án, quyết định được chuyển giao cho người thừa kế nhưng không có người thừa kế Theo quy định của pháp luật dân sự, trong trường hợp người để di sản chết mà không có người thừa kế thì tài sản đó sẽ thuộc về Nhà nước. Vì vậy, nếu người được thi hành án chết không có người thừa kế mà đình chỉ việc thi hành án đồng nghĩa với việc người phải thi hành án được giải phóng việc thực hiện nghĩa vụ, ngân sách Nhà nước bị thất thu và sẽ mâu thuẫn với quy định của pháp luật dân sự. Do đó, để khắc phục bất hợp lý này, BLTHA trong tương lai nên quy định đối với trường hợp này theo hướng: "Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật dân sự quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định được thừa kế nhưng không có người thừa kế thì cơ quan thi hành án tiếp tục thi hành án ; tài sản thu hồi được nộp vào nhân sách nhà nước"./.

SOURCE: BÀI TÁC GIẢ GỬI, ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ.... (CHƯA XÁC ĐỊNH)

17 thg 2, 2008

HOÃN VÀ TẠM NGỪNG PHIÊN TÒA SƠ THẨM

THS. Bùi Thị Huyền - Khoa Luật dân sự - Đại học Luật Hà Nội

Quá trình giải quyết vụ án dân sự có thể trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau nhưng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn quan trọng nhất, nơi thể hiện rõ chức năng xét xử của Toà án, nơi biểu hiện tập trung của quyền tư pháp. Về nguyên tắc, phiên toà sơ thẩm sẽ được tiến hành với sự tham gia của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo đúng thời gian, địa điểm được xác định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Khi kết thúc phiên toà, Hội đồng xét xử ( viết tắt là HĐXX) ra bản án, quyết định về giải quyết toàn bộ vụ án. Tuy nhiên, có những trường hợp vì những lý do khác nhau dẫn đến phiên toà sơ thẩm dân sự không diễn ra theo đúng trình tự nêu trên, phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn hoặc tạm ngừng. Hoãn và tạm ngừng phiên toà là hai khả năng khác nhau có thể xảy ra tại phiên toà nhưng việc hiểu và áp dụng hai trường hợp này trong thực tiễn không được phân biệt rõ ràng. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi muốn trao đổi về hai trường hợp này.

1.Hoãn phiên toà sơ thẩm dân sự

Trong tiếng Việt “hoãn là chuyển thời điểm đã định để làm việc gì đó sang thời điểm khác muộn hơn”(1). Theo nội hàm của từ này thì hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn. Việc hoãn phiên toà chỉ được thực hiện khi có các căn cứ do pháp luật quy định

1.1. Căn cứ hoãn phiên tòa

Vì tính chất quan trọng của sự tham gia tố tụng tại phiên tòa của các chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định HĐXX phải hoãn phiên tòa trong các trường hợp sau:

- Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (HTND), Thư ký Tòa án mà không có Thẩm phán, HTND dự khuyết thay thế; vắng mặt Kiểm sát viên trong trường hợp Viện Kiểm sát (VKS) phải tham gia phiên toà hoặc trong trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế như quy định tại Điều 207 BLTTDS;

- Trường hợp phải thay đổi người giám định mà không có người khác thay thế như quy định tại khoản 2 Điều 72 BLTTDS;

- Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế, trừ trường hợp đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử như quy định tại khoản 2 Điều 206 BLTTDS;

- Trường hợp người làm chứng, người giám định vắng mặt thì tùy từng hoàn cảnh cụ thể, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử như quy định tại Điều 204 và Điều 205 BLTTDS;

- Trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng như quy định tại các Điều 199, 200, 201và 203 BLTTDS;

- Trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung theo khoản 4 Điều 230.

Bên cạnh đó, nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án buộc phải hoãn phiên tòa (như vắng mặt người làm chứng, người giám định, người phiên dịch) thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì HĐXX xem xét, quyết định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận, trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do (Điều 215 BLTTDS). Quy định này cho phép HĐXX sẽ được tuỳ nghi lựa chọn hoãn hay không hoãn. Trên thực tế, các HĐXX thường chọn giải pháp an toàn là hoãn phiên toà. Tuy nhiên, theo chúng tôi HĐXX vẫn có thể tiếp tục phiên toà nếu người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ.

Ngoài ra, đối với các trường hợp khác theo các Điều 199, 201 BLTTDS thì HĐXX giải quyết như sau:

- Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu nguyên đơn, bị đơn đồng ý.

So với quy định của pháp luật tố tụng dân sự ( viết tắt là PLTTDS) trước kia, các căn cứ hoãn phiên toà trong BLTTDS đã đầy đủ, chặt chẽ hơn, hạn chế việc hoãn phiên toà tuỳ tiện nhằm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. . Tuy nhiên, một số căn cứ hoãn phiên tòa vẫn chưa rõ ràng, chưa bao quát được các trường hợp xảy ra trong thực tiễn xét xử dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng khác nhau.

- Về trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt tại phiên tòa.

Các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động trước kia đều quy định, đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt dù có lý do chính đáng hay không thì HĐXX đều phải hoãn phiên toà. Thực tiễn xét xử cho thấy, quy định này là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho phiên toà sơ thẩm có thể bị hoãn nhiều lần, đặc biệt với những vụ án có nhiều đương sự, có những đương sự lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Khắc phục tình trạng đó, BLTTDS quy định, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì hoãn phiên tòa nhưng không đưa ra cách giải quyết trong trường hợp vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng. Tuy vậy, quy định tại các khoản 2 Điều 200, khoản 2 Điều 201 BLTTDS lại quy định dứt khoát bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì Toà án mới được xét xử vắng mặt họ; khoản 2 Điều 199 quy định dứt khoát nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt thì Toà án mới được ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Chính quy định không chặt chẽ và thiếu logic đó của BLTTDS đã dẫn đến cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau của các Toà án trong thời gian đầu khi BLTTDS mới được ban hành. Thẩm phán Bùi Huy Tiến – Thẩm phán toà Kinh tế TANDTC đã thẳng thắn đánh giá rằng: “Đây là một lỗ thủng của BLTTDS”(2). Để giải quyết tình huống này nhiều Thẩm phán cho rằng: “bất luận vắng mặt lần thứ nhất của đương sự có lý do chính đáng hay không thì Toà án vẫn phải hoãn phiên toà và việc xét xử vắng mặt đương sự chỉ có thể tiến hành khi họ được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt"(3). Hơn nữa, BLTTDS cũng không chỉ ra những trường hợp nào được coi là lý do chính đáng nên trong thực tiễn xét xử “ việc hiểu thế nào là lý do chính đáng hiện nay vẫn chưa thống nhất” (4). Có ý kiến cho rằng, lý do được coi là chính đáng khi nó là bất khả kháng đối với đương sự đó như tai nạn, ốm đau, đi công tác xa đột xuất…và tất cả các lý do đó đương sự phải chứng minh được khi HĐXX kiểm tra căn cước ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà. Cho đến ngày 12/5/2006 Nghị quyết 02 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm ” của BLTTDS ( Viết tắt là NQ 02) đã quy định: “Khi nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất dù không có lý do chính đáng thì Toà án vẫn hoãn phiên toà” (5). Như vậy, hướng dẫn trên là “bất nhất” với BLTTDS và giống như quy định của PLTTDS trước khi ban hành BLTTDS.

- Đối với trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có lý do.

Các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động trước kia đều quy định, khi đương sự được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt có lý do chính đáng dù là lần thứ mấy thì HĐXX đều hoãn phiên toà. Bộ luật TTDS không quy định về vấn đề này nhưng NQ 02 hướng dẫn: “Đối với những trường hợp đương sự đã nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 195 của BLTTDS, đã được Toà án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên toà theo quy định tại các điều từ Điều 150 đến Điều 156 của BLTTDS và đương sự đã chuẩn bị tham dự phiên toà xét xử vụ án, nhưng do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan xảy ra đối với họ ngay vào thời điểm trước ngày Toà án mở phiên toà hoặc ngay trong thời điểm họ đang trên đường đến Toà án để tham dự phiên toà (do thiên tai, địch hoạ, bị tai nạn, ốm nặng phải đi bệnh viện cấp cứu, người thân bị chết…) nên họ không thể có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án, thì Toà án cũng hoãn phiên toà” (6). Nhưng NQ 02 lại không hướng dẫn rõ hướng dẫn trên áp dụng đối với trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ mấy. Rõ ràng đối với trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất Toà án phải hoãn phiên toà. Cho nên, cần phải hiểu đây là hướng dẫn cho trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ hai trở đi mà vẫn vắng mặt tại phiên toà khi có lý do chính đáng. Do đó, quy định của PLTTDS về vấn đề này lại giống như quy định của PLTTDS trước khi có BLTTDS. Cách quy định, giải thích pháp luật về vấn đề này thể hiện sự lúng túng, thiếu nhất quán của các nhà làm luật.

- Đối với trường hợp vụ án có nhiều đương sự.

BLTTDS không quy định cách giải quyết trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự nhưng khi Toà án triệu tập họ tham gia phiên toà sơ thẩm thì một trong số họ lại vắng mặt. Tại NQ 02, HĐTPTANDTC hướng dẫn, mỗi đương sự sẽ được quyền vắng mặt một lần khi có lý do chính đáng. Cách giải quyết này nhìn chung là hợp lý vì bảo đảm được sự bình đẳng giữa các đương sự, nhưng đối với những vụ án có nhiều đương sự cách giải quyết này sẽ làm thời hạn giải quyết bị kéo dài. Có Thẩm phán cho rằng, “đối với những vụ án phức tạp có quá nhiều người tham gia tố tụng cần có quy định để tránh phải hoãn phiên toà nhiều lần. Chẳng hạn, trong vụ án chia thừa kế có tới hàng chục đương sự tham gia tố tụng, nếu mỗi đương sự được một lần vắng mặt có lý do chính đáng thì việc hoãn phiên toà cũng phải tới hàng chục lần, do đó cần có quy định thêm trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt tại phiên toà, nhưng các đương sự có mặt đồng ý xét xử vắng mặt họ, hoặc việc xét xử vắng mặt các đương sự này không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự khác thì việc xét xử vẫn được tiến hành vắng mặt họ” (7)

Chúng tôi cho rằng quan điểm trên là hợp lý vì vừa bảo đảm được quyền lợi của các đương sự, vừa giải quyết nhanh chóng vụ án. Do đó cần bổ sung thêm Khoản 4 Điều 202 theo hướng: “trong trường hợp vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất, nhưng các đương sự có mặt đồng ý xét xử vắng mặt họ, hoặc việc xét xử vắng mặt các đương sự này không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự khác thì việc xét xử vẫn được tiến hành vắng mặt họ”.

- Đối với trường hợp hoãn phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung theo khoản 4 Điều 230.

Đây là trường hợp hoãn phiên toà khi HĐXX đã giải quyết về nội dung vụ án; khác với các trường hợp khác HĐXX hoãn phiên toà ở thời điểm trong phần thủ tục bắt đầu. Nếu xem xét về tính chất của hoãn phiên toà thì trường hợp này phải là trường hợp tạm ngừng phiên toà nên cần bỏ căn cứ hoãn phiên toà quy định tại Khoản 4 Điều 230 và quy định đây là căn cứ tạm ngừng phiên toà. Khi xây dựng BLTTDS vấn đề này đã có ý kiến khác nhau. Nhưng có lẽ do thời hạn tạm ngừng phiên toà quá ngắn, tối đa chỉ là 5 ngày làm việc nên thực tế các cơ quan, tổ chức giám định không thể trả lời kết quả giám định và vì thế, trường hợp này BLTTDS vẫn cứ quy định là căn cứ hoãn phiên toà để có thời gian hoãn phiên toà dài hơn.

1.2. Thời hạn hoãn phiên tòa

Theo quy định tại khoản 1 Điều 208 BLTTDS, khi có căn cứ hoãn phiên toà thì thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa. Việc hoãn phiên tòa do HĐXX quyết định. Trong trường hợp sau khi hoãn phiên tòa mà Tòa án không thể mở lại phiên tòa đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa ghi trong quyết định hoãn phiên tòa thì Tòa án phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa. Thời hạn hoãn phiên toà tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Thời hạn hoãn phiên toà không tính vào thời hạn chuẩn bị xét xử. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm việc mở lại phiên toà xét xử vụ án theo đúng quy định, thì sau khi hoãn phiên toà Toà án phải có kế hoạch mở lại phiên toà trong thời gian sớm nhất mà không nhất thiết phải để đến 30 ngày mới mở lại phiên toà.

1.3. Hình thức hoãn phiên tòa

Việc hoãn phiên toà phải được thực hiện bằng một quyết định. Trong quyết định hoãn phiên tòa phải nêu đầy đủ các nội dung về ngày, tháng năm ra quyết định; tên Toà án và họ, tên những người tiến hành tố tụng; vụ án được đưa ra xét xử; lý do của việc hoãn phiên toà; thời gian, địa điểm mở lại phiên toà. Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX ký tên và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết; đối với người vắng mặt thì Tòa án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho VKS cùng cấp. Quyết định này được coi như giấy triệu tập mới đối với đương sự. Trong trường hợp có sự thay đổi về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà ghi trong quyết định hoãn phiên toà, thì Toà án phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà. Quyết định hoãn phiên tòa phải được HĐXX thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản. Đây là điểm mới của BLTTDS so với quy định của pháp luật tố tụng dân sự trước kia. Pháp luật tố tụng dân sự trước kia không quy định việc hoãn phiên toà phải bằng một quyết định nên dẫn đến việc hoãn phiên toà nhiều khi tuỳ tiện, không đúng các căn cứ do pháp luật quy định.

1.4. Thời điểm và thẩm quyền ra quyết định hoãn phiên tòa

Hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn, nên về nguyên tắc chỉ khi phiên toà được mở thì Toà án mới xác định chính xác được chính xác có căn cứ hoãn hay không, do đó quyền hoãn phiên toà chỉ thuộc về HĐXX. Chức năng và mục đích của phiên tòa sơ thẩm dân sự là giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Cho nên khi hoãn phiên toà nội dung vụ án chưa xem xét, tức là thời điểm hoãn phiên toà chỉ xảy ra ở phần thủ tục bắt đầu phiên toà. Về thẩm quyền hoãn phiên tòa, khoản 1 Điều 208 BLTTDS quy định: “ HĐXX quyết định hoãn phiên toà…”. Vì vậy, thời điểm hoãn phiên toà là trong phần thủ tục bắt đầu phiên toà và quyền ra quyết định hoãn phiên toà là thuộc về HĐXX.

Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử hiện nay còn có nhiều trường hợp việc hoãn phiên toà không thực hiện tại phiên toà mà Thẩm phán tự hoãn phiên toà trước khi mở phiên toà với các lý do như đương sự thông báo trước là sẽ không đến phiên toà vào ngày, giờ theo quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc theo giấy triệu tập, HTND có việc đột xuất không tham gia xét xử được… Trong trường hợp, lý do mà đương sự đề nghị hoãn phiên tòa là chính đáng hoặc các trường hợp khác thuộc căn cứ hoãn phiên tòa thì khi mở phiên tòa, HĐXX vẫn phải hoãn phiên tòa. Do đó, việc Thẩm phán hoãn phiên tòa trước khi mở phiên tòa nếu thông báo được cho những người tham gia tố tụng sẽ có lợi cho đương sự có yêu cầu, thuận tiện cho Toà án và tiết kiệm được chi phí tố tụng. Vì vậy, cần sửa khoản 1 Điều 208 BLTTDS theo hướng: “ Tòa án quyết định hoãn phiên toà…”.

Có thể thấy, lần đầu tiên pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định chặt chẽ về căn cứ, thủ tục, thời hạn ra quyết định hoãn phiên toà nhằm tránh việc hoãn phiên toà tuỳ tiện, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, từ đó bảo đảm việc bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

2. Tạm ngừng phiên toà sơ thẩm dân sự

Xét xử là hoạt động tố tụng và tư duy nên để bảo đảm cho HĐXX và những người tham gia tố tụng dễ dàng theo dõi được diễn biến cũng như các tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ thì việc xét xử ở phiên tòa phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ. Các thành viên của HĐXX phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, phải xét xử xong dứt điểm từng vụ án một rồi mới được chuyển sang xét xử vụ án khác, không được phép làm thủ tục khai mạc phiên tòa chung cho nhiều vụ án, hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều vụ án. Tuy nhiên, có những trường hợp sau khi kết thúc bước 1- thủ tục khai mạc phiên tòa, chuyển sang thủ tục hỏi – bắt đầu đi vào giải quyết phần nội dung vụ án có những lý do khác nhau dẫn đến phiên tòa không thể tiếp tục được, trong trường hợp đó HĐXX phải tạm ngừng phiên toà.

Theo sách Đại Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin năm 1998, “tạm ngừng” là từ ghép của hai từ “tạm”“ngừng”. Tạm là chỉ trong thời gian ngắn và sẽ còn thay đổi. Ngừng là dừng lại, không tiếp tục hoạt động. Tạm ngừng là không tiếp tục hoạt động mà phải dừng lại trong thời gian ngắn (8). Như vậy, tạm ngừng phiên tòa có thể hiểu là phiên tòa không tiếp tục các hoạt động tố tụng trong thời gian ngắn khi có các căn cứ do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Căn cứ tạm ngừng phiên toà

Khoản 2 Điều 197 quy định, về nguyên tắc phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên toà, trừ trường hợp có căn cứ tạm ngừng phiên toà và Toà án chỉ tạm ngừng phiên toà trong trường hợp đặc biệt do Bộ luật này quy định. Nhưng BLTTDS và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành BLTTDS lại không quy định những trường hợp nào là căn cứ tạm ngừng phiên toà dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các Toà án, thậm chí giữa các Thẩm phán trong cùng một Toà án. Có quan điểm cho rằng, đó là căn cứ được quy định tại Điều 198 “ thay thế thành viên HĐXX trong trường hợp đặc biệt” tức là trong trường hợp Thẩm phán, HTND không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng không có Thẩm phán, HTND dự khuyết thay thế thì phiên toà phải tạm ngừng, trong trường hợp này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu. Theo chúng tôi đây chỉ là một trong các trường hợp phải tạm ngừng phiên toà, bởi thực tế còn có những trường hợp tại phiên toà đương sự xuất trình chứng cứ, tài liệu mới. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong suốt quá trình Toà án giải quyết vụ án và Toà án phải có trách nhiệm xem xét, đánh giá các chứng cứ, tài liệu đó. Nhưng trong nhiều trường hợp, việc xem xét đánh giá chứng cứ không thể thực hiện được tại phiên toà mà cần phải có thời gian và các điều kiện khác, khi đó phiên toà không thể tiếp tục các hoạt động tố tụng tiếp theo như quy định mà phải dừng lại.

Ví dụ: tại phiên toà đương sự A xuất trình bản di chúc mới, theo đó A được hưởng toàn bộ di sản của ông M, nhưng B phản đối cho rằng đó là di chúc giả do A tạo ra. Để khẳng định chính xác bản di chúc do A xuất trình có phải do ông M lập hay không, B đề nghị trưng cầu giám định; trong trường hợp này HĐXX phải tạm ngừng phiên toà để trưng cầu giám định. Hoặc trong trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung, HĐXX không thể tiếp tục phiên toà…

Như vậy, trường hợp HĐXX đang giải quyết nội dung vụ án nhưng không thể tiếp tục phiên toà vì cần phải thu thập thêm chứng cứ thì mới có thể giải quyết được vụ án, nên phiên toà phải được tạm ngừng phiên toà nhưng hiện tại BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS không quy định và không hướng dẫn về căn cứ tạm ngừng phiên toà. Trước kia, căn cứ tạm ngừng phiên toà đã được TANDTC hướng dẫn trong Công văn số 305/ NCPL ngày 22/12/1990 giải thích một số vấn đề về thủ tục tố tụng dân sự : “Trong trường hợp HĐXX tiến hành thẩm vấn tại phiên toà, mà thấy cần phải xem xét thêm về chứng cứ, cần phải có thời gian để điều tra, xác minh thêm… mới có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX không được hoãn phiên toà mà chỉ có thể tạm ngừng việc tiến hành phiên toà để điều tra, xác minh thêm trong thời gian thích hợp do HĐXX quyết định. Sau khi đã điều tra, xác minh HĐXX tiếp tục mở lại phiên toà để xét xử vụ án”. Theo chúng tôi, căn cứ tạm ngừng phiên toà được TANDTC hướng dẫn trong công văn 305/ NCPL là phù hợp với tính chất, đặc điểm của tạm ngừng phiên toà.

Vì vậy, theo tôi, cần sửa đổi, bổ sung đoạn 2 Khoản 2 Điều 197 BLTTDS theo hướng: “Trong trường hợp HĐXX đã tiến hành hỏi tại phiên toà, mà thấy cần phải xem xét thêm về chứng cứ, cần phải có thời gian để thu thập, xác minh thêm chứng cứ theo yêu cầu của đương sự mới có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX tạm ngừng việc tiến hành phiên toà để thu thập chứng cứ…”. Đồng thời sửa Khoản 4 Điều 230 BLTTDS theo hướng: “ Khi có người tham gia tố tụng không đồng ý với kết luận giám định được công bố tại phiên toà và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, nếu xét thấy việc giám định bổ sung hoặc giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì HĐXX quyết định giám định bổ sung, giám định lại; trong trường hợp này thì HĐXX quyết định tạm ngừng phiên toà”.

Thời hạn tạm ngừng phiên toà

Theo quy định tại đoạn 2 Khoản 2 Điều 197 BLTTDS, thời gian tạm ngừng phiên toà tối đa không quá năm ngày làm việc. Quy định này nhằm đảm bảo việc xét xử nhanh chóng, tránh việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án, bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, nếu tạm ngừng phiên toà trong trường hợp Thẩm phán, HTND không thể tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng không có Thẩm phán, HTND dự khuyết thay thế thì phiên toà phải tạm ngừng, trong trường hợp này thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu tức là nội dung vụ án phải được xem xét từ đầu bởi một HĐXX mới thì khoảng thời hạn năm ngày làm việc trong nhiều trường hợp, đặc biệt là các vụ án phức tạp, có nhiều đương sự không thể đủ thời gian để HĐXX mới có thể tiếp cận, nghiên cứư hồ sơ vụ án. Mặt khác, nếu kiến nghị các căn cứ hoãn phiên toà theo hướng nêu trên thì thời gian năm ngày làm việc cũng không thể đủ để các cơ quan, tổ chức thực hiện được việc giám định hoặc thu thập chứng cứ. Theo chúng tôi việc tạm ngừng phiên toà dài ngày hay ngắn ngày phụ thuộc vào căn cứ tạm ngừng của từng vụ án cụ thể nên không thể quy định cứng nhắc nhưng cũng cần phải giới hạn khoảng thời gian tối đa để tránh việc lợi dụng quy định của pháp luật kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Vì vậy, thời gian tạm ngừng nên quy định như sau: “trong trường hợp HĐXX đã tiến hành hỏi tại phiên toà, mà thấy cần phải xem xét thêm về chứng cứ, cần phải có thời gian để thu thập, xác minh thêm chứng cứ theo yêu cầu của đương sự mới có thể giải quyết được vụ án thì HĐXX tạm ngừng việc tiến hành phiên toà để thu thập chứng cứ cho đến khi thực hiện xong việc thu thập chứng cứ nhưng tối đa không quá ba mươi ngày kể từ ngày tạm ngừng phiên toà”.

Hình thức tạm ngừng phiên toà

Đoạn 2 Khoản 2 Điều 197 BLTTDS không quy định về hình thức tạm ngừng phiên toà, dẫn đến trong thực tiễn có những cách thức tạm ngừng phiên toà khác nhau giữa các Toà án. Theo tôi, việc tạm ngừng phiên toà có ảnh hưởng quan trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự bởi nhiều trường hợp việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án làm lợi cho một bên đương sự nhiều triệu đồng và ngược lại, đặc biệt là các tranh chấp về kinh doanh, thương mại…Cho nên, bên cạnh việc quy định chặt chẽ căn cứ tạm ngừng phiên toà, thì việc tạm ngừng phiên toà cần được thể hiện dưới hình thức quyết định, trong đó nêu rõ tên vụ án; họ, tên những người tiến hành tố tụng; họ, tên các đương sự; căn cứ tạm ngừng; thời hạn tạm ngừng. Quyết định này phải được HĐXX thảo luận và thông qua tại phòng nghị án.

Tài liệu tham khảo

(1)Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà nẵng, Trung tâm từ điển học, tr. 450, năm 2003.

(2) Tài liệu tập huấn BLTTDS, Trường Cán bộ Toà án, tr. 108, năm 2004.

(3), (4), (7) Tài liệu hội thảo khoa học cấp trường, Đề tài: “Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.13,20 năm 2005;

(5), (6) Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “ Thủ tục giải quyết các vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm ” của BLTTDS.

(8) Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, năm 1998.

SOURCE: BÀI DO TÁC GIẢ GỬI ĐƯỢC ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ... (CHƯA XÁC ĐỊNH)