Hiển thị các bài đăng có nhãn NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI. Hiển thị tất cả bài đăng

13 thg 7, 2009

MÔ HÌNH GIÁM SÁT CHÍNH QUYỀN BẰNG TƯ PHÁP Ở MỸ

ĐẶNG MINH TUẤN

Trong Nhà nước pháp quyền, điều đặc biệt quan trọng là phải tìm ra các biện pháp để giới hạn quyền lực Nhà nước nhằm chống lại sự lạm quyền hay lộng quyền của Nhà nước mà xâm phạm đến các quyền con người.

Có nhiều cách thức kiểm soát và giới hạn chính quyền, và trong số đó cách thức kiểm soát chính quyền bằng tư pháp có nhiều ưu thế, được thiết lập và áp dụng phổ biến trên thế giới. Cách thức kiểm soát chính quyền cơ bản của tư pháp là giám sát tư pháp (Judicial Review)(1). Có nhiều mô hình giám sát tư pháp, trong đó có mô hình giám sát tư pháp bằng hệ thống Tòa án thường, có mô hình được đặc trưng bởi một cơ quan chuyên biệt (Tòa hiến pháp, hội đồng bảo hiến) thực hiện chức năng giám sát tư pháp và có cả mô hình áp dụng phối kết hợp những đặc điểm của mô hình trên.

Mô hình giám sát tư pháp ở Mỹ đặc trưng cho mô hình giám sát bởi hệ thống Tòa án thường và được gọi là mô hình giám sát phi tập trung (Diffuse system)(2). Do mô hình này lần đầu tiên được thiết lập ở Mỹ, do đó nhiều người gọi đây là mô hình Mỹ (the American system).

I. Quyền giám sát tư pháp và quyền tối cao tư pháp

Khi Alex đến nước Mỹ và nghiên cứu về hệ thống chính trị của Mỹ cách đây hơn 150 năm, ông ta đã có nhận xét rằng cách thức mà người Mỹ lập ra hệ thống quyền lực tư pháp là chỉ có riêng ở Mỹ. Khi đề cập đến quyền lực của các Tòa án, ông cho rằng thẩm quyền quan trọng nhất của quốc gia là quyền giám sát tư pháp (Judicial Review)(3).

13 thg 5, 2009

VẬN ĐỘNG HÀNH LANG Ở MỸ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

TRẦN ĐÌNH TUẤN

Thời gian gần đây, vấn đề vận động hành lang (lobby) đang được quan tâm đặc biệt ở Việt Nam. Đã có những cuộc hội thảo lớn được tổ chức về vấn đề này. Điều đó cho thấy rằng vận động hành lang là một vấn đề quan trọng đang ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của chúng ta.

Trên thực tế, từ “lobby” bắt đầu xuất hiện vào khoảng năm 1840 tại Quốc hội Anh, khi công dân Anh có quyền đến hành lang Quốc hội gặp các nghị sĩ để bày tỏ nguyện vọng của mình. Dần phát triển và lan rộng, giờ đây ở Mỹ, Châu Âu, Canada - được xem là những nơi mà các hoạt động lobby chuyên nghiệp và sôi động nhất.

Tại các nước phát triển, lobby được pháp luật thừa nhận và hoạt động công khai. Hoạt động lobby không phải ở trong phòng họp mà ở ngoài hành lang với nhiều hình thức phong phú. Khi Liên minh Châu Âu (EU) chọn Bruxells (Bỉ) làm trụ sở thì dòng chảy các chuyên gia lobby cũng ồ ạt về đây bởi các công ty biết rằng những gì diễn ra ở đây ảnh hưởng mạnh mẽ tới tương lai và chiến lược hoạt động của họ. Các chuyên gia lobby thường hoạt động dưới những hình thức như: văn phòng đại diện báo chí, đại diện thương mại, văn phòng luật…

Vận động hành lang ở Mỹ

Nói đến lobby tất yếu phải nói đến nước Mỹ. Ngày nay, từ lobby tại Mỹ chỉ việc người dân tìm cách ảnh hưởng đến quyết định của các nhân viên chính phủ, tới các nghị sĩ đến các nhân viên trong guồng máy hành chính bằng nhiều cách hình thức khác nhau như gặp mặt, gửi thư, gửi các văn bản góp ý, biểu tình. Lobby có nền tảng vững chắc trong Hiến pháp Mỹ - đó là quyền được đề nghị với chính phủ trong Hiến pháp. Tại Mỹ, hiện có rất nhiều công ty tư vấn về lobby. Thông thường họ là các cựu nghị sĩ. Các tổ hợp luật chuyên về nhà nước cũng thường làm lobby. Các công ty lớn thường có một văn phòng ngoại giao hay văn phòng liên chính phủ chuyên về lobby. Các văn phòng này thường đặt ở thủ đô Washington D.C. Các tổ chức phi chính phủ lớn cũng thường có một văn phòng hay chí ít là một nhân viên chuyên về liên hệ chính phủ.

Trong lobby ở Mỹ cũng có xảy ra tham nhũng. Vì vậy Quốc hội Mỹ tìm cách giảm tham nhũng bằng cách yêu cầu các chuyên gia lobby (tiếng Anh là lobbyist) đăng ký với Quốc hội trong một danh sách công khai. Luật pháp Mỹ cấm nhân viên nhà nước nhận quà trên 25 USD. Các công ty nước ngoài cũng có thể lobby tại Mỹ, thông thường là qua một công ty chuyên về lobby. Đài Loan được coi là bỏ chi phí lớn nhất cho việc lobby tại Mỹ vì họ cần Mỹ hỗ trợ trong mối quan hệ với Trung Quốc. Các công ty Trung Đông cũng khá tốn kém về lobby khi muốn đầu tư tại Mỹ.

20 thg 8, 2008

PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN CỦA AUSTRALIA VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ: MÔ HÌNH LẬP PHÁP, QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC MỘT CÁCH HIỆU QUẢ VÀ THÔNG LỆ HÒA GIẢI PHỔ BIẾN NHẤT

ĐẶNG HOÀNG OANH - Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Pháp luật và thực tiễn của Australia về hoà giải ở cơ sở: Mô hình lập pháp, Quản lý nhà nước một cách hiệu quả và Thông lệ̣ Hòa giải Phổ biến nhất

1. Bộ Tư pháp Chính quyền tiểu Bang Victoria, Australia(Bộ phận xây dựng và thực thi chính sách ADR):

Bộ Tư pháp Tiểu bang Victoria đã tổng kết hoạt động giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án tại tiểu bang nhằm tìm hiểu thực trạng ADR và đánh giá hiệu quả của những hoạt động này trong việc đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân. Trên cơ sở tổng kết đó, Bộ đã xây dựng Chiến lược ADR nhằm cung cấp cho người dân Victoria thêm nhiều phương thức giải quyết tranh chấp ít tốn kém mà lại  hiệu quả. Dự án Chiến lược ADR mới triển khai đã công bố một công trình nghiên cứu thực trạng ADR tại Tiểu bang Victoria và đề xuất những kiến  nghị mới nhằm cải thiện chế định này.

Thông qua buổi thảo luận, trao đổi, Đoàn đã nắm được những vấn đề tồn tại và các thách thức trong việc xây dựng các chuơng trình ADR ở Tiểu bang Victoria, đặc biệt là những nội dung liên quan đến giám sát và quản lý hành chính. Đặc biệt, Đoàn rất quan tâm đến các thông tin đã thu nhận được về Chiến lược, chính sách, các quy định và những hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các chương trình ADR tại cộng đồng - một mô hình của Australia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam. Những kinh nghiệm điển hình này sẽ được kiến nghị xem xét, áp dụng trong quá trình hoàn thiện thể chế về hòa giải sắp tới.

26 thg 7, 2008

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC Ở CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC

PGS.TS. NGUYÊN NHƯ PHÁT & TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH - Viện Nhà nước và Pháp luật

1. Bồi thường Nhà nước – Sự bảo hộ pháp lý thứ phát

“Pháp luật về bồi thường Nhà nước“ là bộ phận pháp luật trong hệ thống pháp luật của CHLB Đức quy định về một loại hình trách nhiệm pháp lý đặc biệt: trách nhiệm của chủ thể thừa hành công vụ đối với các hành vi công quyền của mình trong quá trình thực hiện công vụ. Nói cách khác, loại hình trách nhiệm pháp lý này được áp dụng đối với hành vi công quyền (hành động hoặc không hành động) trên nền tảng pháp lý của Luật công. Mặc dù các chủ thể của hành vi công quyền phụng sự quốc gia theo những hình thức pháp lý khác với hình thức pháp lý của Luật dân sự, song hậu quả pháp lý của những hành vi này lại được xem xét dưới các hình thức trách nhiệm pháp lý của dân luật. Cụ thể là, nó cũng trở thành đối tượng của quyền khởi kiện theo dân luật như những vi phạm hợp đồng, ngoài hợp đồng và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

Do được hình thành trên nền tảng của các hành vi công quyền, nên pháp luật về bồi thường Nhà nước được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với các hình thức bảo vệ pháp lý của công dân trước sự xâm hại của các hành vi công quyền. Trong quá trình thực thi quyền lực Nhà nước, hành vi công quyền luôn tiềm ẩn một nguy cơ – xâm hại các quyền của công dân – cái luôn được Luật cơ bản (Hiến pháp liên bang)[1]  của CHLB

Đức bảo hộ thông qua việc ghi nhận khả năng tố quyền theo Điều 19 khoản 4. Sự bảo hộ pháp lý này của Hiến pháp liên bang đã mở ra cho công dân Đức một khả năng, yêu cầu Tòa án xem xét lại tính hợp pháp của hành vi công quyền mà họ cho là đã vi phạm các quyền hợp pháp của họ (bảo vệ pháp lý nguyên phát- primorer Rechtsschutz). Tuy nhiên, sự bảo hộ pháp lý này không tồn tại một cách đơn lẻ. Nó được bảo vệ bổ sung thông qua pháp luật về bồi thường Nhà nước – bộ phận pháp luật đem lại một khả năng bổ sung là yêu cầu bồi thường đối với các hành vi công quyền xâm hại đến quyền công dân (bảo vệ pháp lý thứ phát- sekundọrer Rechtsschutz).

23 thg 7, 2008

NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

TS. LÊ THỊ HOÀI THU - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong đời sống xã hội các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng được hình thành và phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp. Khi của cải xã hội ngày càng nhiều thì mức độ thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng, điều này cho thấy việc thoả mãn nhu cầu của cuộc sống phụ thuộc vào khả năng lao động của con người.

Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời không phải lúc nào con người cũng có thể lao động tạo ra thu nhập, trái lại có nhiều trường hợp xảy ra gây cho con người bị giảm hoặc mất khả năng lao động như: ốm đau, tai nạn, già yếu, thất nghiệp, nghèo đói, chết... Đồng thời, con người còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội. Những điều kiện này không phải lúc nào và ở đâu cũng thuận lợi, may mắn. Những rủi ro này là khó có thể tránh khỏi và dự báo trước được. Mỗi khi như vậy, từng cá thể phải tìm mọi cách để khắc phục. Tập hợp các rủi ro, bất lợi của các cá nhân nêu trên chính là rủi ro có tính xã hội, thậm chí lại có tính toàn cầu đòi hỏi toàn nhân loại phải giải quyết. Để giải quyết tốt những vấn đề xã hội, một trong những nhiệm vụ cơ bản của mỗi nhà nước là phải xây dựng hệ thống chính sách xã hội mà an sinh xã hội là loại chính sách xã hội phổ biến.

14 thg 7, 2008

PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC CỦA TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN TRONG VIỆC XÂY DỰNG LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM

image THS. NGUYỄN ĐỖ KIÊN - Vụ Tổ chức cán bộ - Bộ Tư pháp

I. Sự hình thành và phát triển chế độ bồi thường nhà nước của Trung Quốc

Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949. Năm 1949 “Cương lĩnh cộng đồng” do Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đảng phái dân chủ khác của Trung Quốc cùng phối hợp soạn thảo và thống nhất ban hành với nội dung có ý nghĩa như một bản Hiến pháp. Năm 1954, Trung Quốc ban hành Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, trong đó, Điều 99 Hiến pháp đã lần đầu tiên ghi nhận vấn đề bồi thường đối với hành vi vi phạm pháp luật do cơ quan nhà nước hoặc nhân viên của cơ quan nhà nước xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đồng thời, chính sách và pháp luật của Trung Quốc trong thời kỳ này cũng đã qui định nhiều nội dung liên quan đến bồi thường nhà nước trong các văn bản pháp luật khác nhau.

25 thg 2, 2008

BẢN CHẤT VÀ NGUỒN CỦA LUẬT HỒI GIÁO

THS. ĐỖ THỊ MAI HẠNH - ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM

Trên thế giới có nhiều hệ thống pháp luật cùng tồn tại. Đó là hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, hệ thống pháp luật Thông luật, hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa và hệ thống pháp luật Tôn giáo (hay còn gọi là hệ thống Luật Hồi giáo). So với các hệ thống pháp luật khác, hệ thống Luật Hồi giáo luôn là một bí ẩn đối với giới luật gia. Hiện nay, ở Việt Nam, các thông tin về nguồn gốc và đặc điểm nguồn luật của hệ thống pháp luật này qua các tài liệu còn tương đối hiếm và không thống nhất. Vì vậy, trong bài viết, tác giả muốn giới thiệu thật cô đọng về hệ thống Luật Hồi giáo, đặc biệt là xác định bản chất và nguồn của hệ thống pháp luật này.

I. Về bản chất của Luật Hồi giáo

Trước hết cần hiểu đúng về Đạo Hồi và Luật Hồi giáo. Cũng như Đạo Phật, Đạo Chúa,... Đạo Hồi là một tín ngưỡng tôn giáo. Đạo Hồi khuyên các tín đồ sống, làm việc thiện để sau này có một cuộc sống tươi đẹp, hạnh phúc ở cõi vĩnh hằng. Các tín đồ theo Đạo Hồi phải thực hiện những nghĩa vụ như: ăn chay, cầu nguyện, bố thí, hành hương và sống theo những lời răn dạy của thánh Alla trong Kinh Qu’ran (Koran).1 Nếu làm được như vậy, họ sẽ có một cuộc sống vĩnh hằng hạnh phúc ở thiên đường.

Luật Hồi giáo, theo nghĩa gốc bằng tiếng Arập được phiên âm sang tiếng Latinh, là Luật Shari’ah - nghĩa là “con đường đúng” (the right path) hoặc là “sự hướng dẫn” (guide)2. Đây là các quy phạm tôn giáo được nâng lên thành quy phạm pháp luật được các quốc gia trong hệ thống Luật Hồi giáo (điển hình như Afghanistan, Pakistan, Kowait, Bahrain, Quatar, Arập Xêut)3 áp dụng để điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong xã hội.

Hai yếu tố cơ bản, tiên quyết để xác định một quốc gia thuộc hệ thống Luật Hồi giáo bao gồm: Đạo Hồi là quốc đạo của quốc gia, quốc gia lấy các quy định trong Kinh Thánh của Đạo Hồi làm luật. Chính vì vậy mà Thổ Nhĩ Kỳ, dù là nước có Đạo Hồi là quốc đạo, nhưng vẫn là quốc gia thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa vì ở quốc gia này Đạo Hồi chỉ được coi là tôn giáo4 chứ không phải là luật.

Đặc điểm mấu chốt của sự khác biệt giữa hệ thống Luật Hồi giáo với các hệ thống pháp luật thế giới khác là ở các quốc gia áp dụng Luật Hồi giáo không có sự tách rời giữa nhà thờ và nhà nước (church and state). Ở đây, chính trị thần quyền (chế độ cai trị của các tăng lữ, trong đó các luật lệ của nhà nước được tin tưởng là luật lệ của Chúa Trời) bao trùm và điều chỉnh các vấn đề mang tính chất công và tư. Cũng chính từ học thuyết này, Shari’ah là luật Thánh Alla ban hành, không biến đổi và được nhà nước áp dụng cho mọi thời đại; nói khác đi, nhà nước, luật pháp và tôn giáo chỉ là một. Khái niệm này có thể hiểu ở mức độ khác nhau giữa các quốc gia, nhưng luật pháp, chính quyền đều dựa vào khái niệm đó và là một phần của tôn giáo Đạo Hồi5.

Hiện nay có trên 1.2 tỉ người theo Đạo Hồi (chiếm khoảng 20% dân số thế giới).6 Đa số những người theo Đạo Hồi sống ở hơn 50 quốc gia có luật pháp là Luật Hồi giáo hoặc ảnh hưởng chủ yếu bởi Luật Hồi giáo.7 Số còn lại, là các tín đồ của Đạo Hồi nhưng sống ở những quốc gia chỉ coi Đạo Hồi thuần túy là một hình thức tôn giáo. Tuy không thể nói một cách chính xác có bao nhiêu người thực sự bị ảnh hưởng bởi Luật Hồi giáo, nhưng rõ ràng đó là một con số đáng kể.

Do đó hệ thống Luật Hồi giáo bao gồm những quốc gia theo Luật Hồi giáo, cũng là một hệ thống pháp luật thế giới lớn, tồn tại và phát triển và tương tác cùng các hệ thống pháp luật thế giới khác.

II. Về nguồn của Luật Hồi giáo

Như đã đề cập ở trên, Luật Hồi giáo chính là Luật Shari’ah. Luật này điều chỉnh, đưa ra nguyên tắc và quy định hành vi của người dân, hoạt động của các cơ quan tổ chức, đưa ra các quy phạm để áp dụng trong đời sống của một con người như: ăn kiêng, cách nuôi dạy con cái, đồng thời cũng quy định và miêu tả những nguyên tắc dành cho người tu hành, việc bố thí cho người nghèo và những vấn đề tôn giáo khác. Bên cạnh đó Luật Shari’ah cũng được sử dụng như những hướng dẫn đối với các hoạt động của con người trong xã hội cũng như đối với những tác động qua lại giữa các nhóm dân tộc. Ở phạm vi rộng hơn, Luật Shari’ah được áp dụng để giải quyết những tranh chấp trong phạm vi quốc gia và giữa các quốc gia với nhau, đồng thời giải quyết những tranh chấp, xung đột quốc tế và vấn đề chiến tranh8. Do đó nguồn luật của Luật Hồi giáo cũng chính là các thành tố của Luật Shari’ah. Luật này gồm 4 thành tố sau: Kinh Qu’ran (hay còn gọi là Koran), Kinh Sunna, Idjmá và Qiyás.9

Thành tố đầu tiên mang tính chất chủ đạo của Luật Hồi giáo là Kinh Qu’ran. Đây cũng là nguồn luật với những quy định mang giá trị chung thẩm khi được áp dụng10. Kinh Qu’ran là nguồn luật cao nhất của Luật Hồi giáo, được coi là những lời của Thánh Alla tiết lộ cho tiên tri Muhammed (570-632)11. Sự hình thành và phát triển của Qu’ran với tư cách vừa là Kinh Thánh vừa là luật xuất hiện ban đầu bởi sự truyền đạo của nhà tiên tri (Prophet) Mohammad tại thành phố Madinah, sau đó đã đồng loạt xuất hiện ở mọi nơi cùng với sự gia tăng những tín đồ của Đạo Hồi. Nhà tiên tri vừa là chỗ dựa tinh thần vừa là người tạm thời đứng đầu cộng đồng. Về cấu trúc Kinh Qu’ran được chia thành 30 phần và 114 chương và được sắp xếp theo ý của nhà tiên tri12 . Các chương lại chia nhỏ thành 6.200 khổ thơ (verse), các luật gia Đạo Hồi gọi chúng là “Những khổ thơ pháp luật”13. Chỉ có khoảng 3% các khổ thơ đó là liên quan đến pháp luật. Ví dụ, Luật Gia đình được quy định trong khoảng 70 khổ thơ; các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực luật tư khác được quy định trong 70 khổ thơ; khoảng 30 khổ thơ được coi là đặc trưng cho Luật Hình sự; các vấn đề về tài chính và hiến pháp thì được đề cập trong khoảng 20 khổ thơ; các vấn đề liên quan đến Luật Quốc tế thì cũng được quy định trong khoảng 20 khổ thơ14.

Cách thức thể hiện những điều răn dạy và điều cấm trong Kinh Qu’ran bao giờ cũng theo cùng một công thức: điều răn dạy đều bắt đầu bằng lời giới thiệu, sau đó kết thúc bằng một lời cấm đoán. Đơn cử như điều răn sau15:

Đoạn đầu tiên, lời giới thiệu là: “Người dân hỏi nhà tiên tri về rượu và bài bạc. Hãy nói rằng, cả hai thứ đó đều xấu xa, dù rằng nó có một thuận lợi nào đó cho đàn ông, nhưng sự xấu xa của nó thì to lớn hơn sự thuận lợi đó nhiều lần”.

Đoạn thứ hai, lời giới thiệu hướng đến điều cấm đoán: “Hỡi những tín đồ, không được cầu nguyện khi người đang say”.

Đoạn thứ ba, lời giới thiệu đã chuyển thành điều cấm hoàn toàn: “ Hỡi những tín đồ, uống rượu và chơi cờ bạc là những hành động xấu xa, là công việc của quỷ dữ, vì vậy phải tránh xa nó”.

Trong Kinh Qu’ran, tín ngưỡng tồn tại bên cạnh một số nguyên tắc pháp lý và hầu hết các nguyên tắc pháp lý liên quan đến luật gia đình (kết hôn, ly dị và thừa kế), một số liên quan đến  Luật Hình sự (ngoại tình, vu khống, uống rượu), một số liên quan đến hợp đồng (hình thức hợp đồng, phương thức thanh toán), một số liên quan đến vấn đề pháp luật về tài chính, hiến pháp, tòa án, tranh chấp quốc tế... Các vấn đề liên quan đến tôn giáo, nghi lễ, nghi thức và luật pháp rất ngắn gọn trong Qu’ran và hầu như mang tính nguyên tắc, không cụ thể. Hơn thế nữa, vẫn có một số vấn đề bỏ ngỏ, chưa được đề cập. Vì vậy, về nguyên tắc, vẫn rất cần sự giải thích và mô tả từ nhà tiên tri, hay nói cách khác, bên cạnh Kinh Qu’ran vẫn cần có nguồn luật bổ trợ; đây chính là tiền đề để nguồn luật quan trọng thứ hai của Luật Hồi giáo ra đời, đó là Kinh Sunna.

Kinh Sunna chứa đựng những lời dạy bảo của tiên tri Mohamed và những giai thoại, những câu chuyện (gọi là Hadith) về nhà tiên tri và các tín đồ của mình đã sống một cuộc sống phù hợp với trật tự tôn giáo được quy định trong Kinh Qu’ran16. Những câu chuyện và giai thoại đó đã chi tiết hóa những vấn đề được đề cập mang tính nguyên tắc, hoặc chưa rõ ràng trong Kinh Qu’ran. Cuộc sống của Mohamad và tín đồ của ông dần được xem là khuôn mẫu cho cuộc sống của người dân trong xã hội. Nội dung của Sunna gồm 3 loại: lời nói của tiên tri về tôn giáo; hoạt động và hành vi của nhà tiên tri và sự chấp nhận của tiên tri đối với một số hành vi nhất định của con người. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, trong một chừng mực nhất định, các nguyên tắc của Đạo Hồi, Luật Hồi giáo cũng được rút ra từ nguồn Sunna này. Bởi vì Qu’ran nhìn chung chỉ giải quyết những nguyên tắc lớn về pháp luật, những vấn đề cốt yếu về tôn giáo và đi sâu vào chi tiết một số ít trường hợp. Điển hình như: Kinh Qu’ran cấm uống ruợu, nhưng lại không nói gì về chế tài đối với hành vi này; chế tài này lại được tìm thấy trong Kinh Sunna bằng việc miêu tả rằng nhà tiên tri đã ra chế tài và bản thân ông là người thực thi hình phạt đánh roi đối với hành vi uống rượu này17. Như vậy, Kinh Sunna đã chi tiết hóa những vấn đề đó bằng lời giải thích và hành động của nhà tiên tri và của những tín đồ ngoan đạo đi theo ông.

Khác biệt hẳn so với Kinh Qu’ran và Kinh Sunna là hai nguồn luật của Luật Hồi giáo mang tính thần thánh, tự nhiên thì thành tố thứ ba của Luật Hồi giáo là Idjimá lại được ra đời trên cơ sở sự thống nhất về quan điểm pháp luật của các học giả pháp lý Đạo Hồi18. Những vấn đề mà các nhà học giả pháp lý Đạo Hồi bàn luận là những vấn đề về con người và cả chính trị nữa. Khi những vấn đề đó đạt được sự thống nhất, chúng được giải thích là Idjimá. Những khái niệm và ý kiến trong Idjimá thì không tìm thấy trong Kinh Qu’ran và Kinh Sunna. Đơn cử như một quy định được đề cập trong Idjimá, phụ nữ không thể trở thành thẩm phán. Quy định này không hề được đề cập trong Kinh Qu’ran và Kinh Sunna mà lại được rút ra từ quan điểm thống nhất của các học giả pháp lý Đạo Hồi.19 Trong thực tiễn, các thẩm phán có thể kiểm tra trong Idjmá để tìm kiếm nhiều giải pháp khả thi để áp dụng trong xã hội hiện đại. Và họ hoàn toàn tự do sáng tạo phương pháp mới để giải quyết các vấn đề tội phạm và vấn đề xã hội dựa trên cơ sở những quan điểm được đề cập trong Idjimá. Do vậy thẩm phán có quyền quyết định rất lớn trong việc áp dụng quan điểm nào trong Idjmá để giải quyết một vụ việc cụ thể bất kỳ.

Thành tố thứ tư của Luật Hồi giáo là Qiyas, là án lệ được tuyên bởi thẩm phán cấp cao20. Nói một cách khác, Qiyas có thể gọi là “phương pháp suy xét theo sự việc tương tự”21. Các thẩm phán của các nước theo Luật Hồi giáo có thể sử dụng tiền lệ pháp đó để giải quyết một vụ việc mới phát sinh sau này mà hướng giải quyết vụ việc đó không được đề cập trong Kinh Qu’ran, Kinh Sunna và Idjmá. Ví dụ như đó là một tội phạm về máy vi tính, trộm cắp phần mềm máy tính, trong Kinh Qu’ran và Sunna không đề cập đến loại tội phạm này. Hành vi này là cần thiết bị cấm nên thẩm phán phải dựa trên lý lẽ và logic để sáng tạo ra án lệ, hay còn gọi là Qiyas.

Vậy ở các nước theo Luật Hồi giáo có tồn tại nguồn luật là các văn bản pháp luật hay không? Có thể nói rằng, có văn bản pháp luật ở các quốc gia theo Luật Hồi giáo cũng như việc có tồn tại án lệ trong hệ thống pháp luật của những quốc gia này. Nhưng đây là sự chuyển hóa những quan điểm pháp luật, ý kiến pháp luật được thống nhất bởi các học giả pháp lý Đạo Hồi vào các văn bản pháp luật22. Và sự chuyển hóa này bắt đầu vào khoảng thế kỷ 19, thời điểm lịch sử các quốc gia theo Luật Hồi giáo có một sự thay đổi rất lớn lao, khi các quốc gia Phương Tây tăng cường quyền lực toàn cầu và chinh phục một phần rộng lớn của thế giới, trong đó có các vùng lãnh thổ của Luật Hồi giáo23.

Như vậy có thể khẳng định rằng những quốc gia nằm trong hệ thống Luật Hồi giáo là những quốc gia điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội bằng Luật Shari’ah - hay còn gọi là Luật Hồi giáo. Luật này bao gồm bốn thành tố, nói khác đi là bốn nguồn luật: Kinh Qu’ran, Kinh Sunna, Idjmá và Qiyas; trong đó Kinh Qu’ran và Kinh Sunna là hai nguồn luật chủ đạo nhất, có giá trị pháp lý cao nhất đồng thời thể hiện là nguồn luật mang tính thần thánh và tự nhiên, còn Idjmá và Qiyas đóng vai trò là nguồn luật bổ trợ cho hai nguồn luật trên nhưng không thể thiếu được trong hệ thống pháp luật của các quốc gia theo Luật Hồi giáo và là nguồn luật thể hiện cho sự điều chỉnh pháp luật bằng việc kết hợp những tư tưởng thần thánh tự nhiên với lý trí và sự thông thái của con người.

Chú thích:

1 Lê Phụng Hoàng chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục, năm 2000, tr. 73 - 74.

2 Michael Bogdan, Comparative Law, Nxb Kluwer Law and Taxation, năm 1994, tr. 227.

3 Réne David (Người dịch: Nguyễn Sĩ Dũng và Nguyễn Đức Lâm), Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr . 341.

4 Michael Bogdan, sđd, tr. 228.

5 http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm

6 http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm

7 Michael Bogdan, sđd, tr . 220.

8 http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm

9 Các nguồn này được thừa nhận thống nhất bởi nhiều nhà nghiên cứu như Michael Bogdan (sđd, tr. 221 - 223) và Réne David (sđd, tr. 342 - 345).

10 http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm

11 Michael Bogdan, sđd, tr. 221.

12 Dr. Ahmad A. Galwash, Handbook of Muslim Belief, năm 2001, tr. 169.

13 Réne David, sđd, tr. 343.

14 Michael Bogdan, sđd, tr. 221.

15 Dr. Ahmad A. Galwash, sđd, tr. 166

16 http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm

17 Michael Bogdan, sđd, tr. 222.

18 Về điểm này có được sự thống nhất của các nhà nghiên cứu như Michael Bogdan (sđd, tr. 222) và Réne David (sđd, tr. 344) và cũng là ý kiến được trình bày trong trang web http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm.

19 Michael Bogdan, sđd, tr. 222.

20 http://muslim-canada.org/Islam_myths.htm

21 Réne David, sđd, tr. 345.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 3 (34) NĂM 2006

19 thg 2, 2008

CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP PHỔ BIẾN Ở PHÁP

THS. LÊ MINH PHIẾU- NCS Đại học Montesquieu – Bordeaux IV, Pháp

Một chuyên gia từng tham gia soạn thảo Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã từng đánh giá rằng “Bộ luật doanh nghiệp của “Tây” rất dày nhưng người dân khi tham gia kinh doanh rất nhanh chóng, thuận tiện”1. Thật vậy, với một số lượng các điều khoản đồ sộ, pháp luật doanh nghiệp của Pháp đã quy định khá cụ thể, chi tiết điều chỉnh tường tận các vấn đề của một doanh nghiệp kể từ lúc chuẩn bị ra đời đến lúc đã mất đi. Thế nhưng, mặc dù với số lượng rườm rà các điều khoản như vậy, pháp luật doanh nghiệp Pháp không hề làm bó hẹp sự tự do của các nhà đầu tư cũng như của doanh nghiệp mà ngược lại, sự tự do và linh hoạt của các chủ thể kinh doanh được bảo vệ một cách cao nhất có thể. Và trong những năm gần đây, pháp luật doanh nghiệp Pháp đã trải qua những lần đổi mới lớn - sự thay đổi từ những quan niệm kinh điển về công ty đến những quan niệm mới phù hợp với thực tiễn kinh doanh. Chính những thay đổi đó đã làm cho chúng càng trở nên linh hoạt và đồng thời trao thêm nhiều sự lựa chọn cho nhà đầu tư hơn.

Để tìm hiểu chi tiết về những vấn đề trên, chúng tôi xin được phép giới thiệu những loại hình doanh nghiệp phổ biến trong pháp luật Pháp, bao gồm công ty cổ phần, công ty hợp vốn cổ phần, công ty cổ phần đơn giản, công ty trách nhiệm hữn hạn, công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản.

1. CÔNG TY CỔ PHẦN (Société anonyme – SA)

Ở Pháp, công ty cổ phần, hay còn gọi là công ty vô danh (société anonyme –SA) được ra đời khá sớm. Ngay vào thời Rechelieu (1632 - 1635), những công ty thuộc địa lớn đã ra đời, nhưng chỉ được thành lập theo sắc lệnh của Hoàng gia. Sau Cách mạng 1789, Luật Allaerd ngày 2/3/1791 về tự do thương mại và công nghiệp2 ra đời đã công nhận quyền tự do thành lập công ty cổ phần. Thế nhưng, Bộ luật Thương mại năm 1807 ra đời đã quy định việc thành lập công ty cổ phần phải được sự cho phép của Chính phủ. Sau đó, Luật ngày 24/7/1867 đã đưa ra một qui chế thật sự cho các công ty cổ phần và đã xóa bỏ sự cho phép của Chính phủ đối với việc thành lập công ty cổ phần. Một thế kỷ sau, Luật năm 1867 đã bị thay thế bởi Luật số 66-537 ngày 24/7/1966 về các công ty thương mại và đây chính là những qui định hiện hành được áp dụng và vào năm 2000, nó trở thành một bộ phận của Bộ luật Thương mại. Luật NRE (Loi relative aux nouvelles régulations économiques - Luật về quy chế kinh tế mới) ngày 15/5/2001 đã sửa đổi nhiều quy định áp dụng đối với công ty cổ phần, đặc biệt là về tổ chức quản lý.

1.1. Thành lập

Để thành lập một công ty cổ phần, các sáng lập viên phải đáp ứng những điều kiện về nội dung và hình thức như sau:

- Về nội dung, ngoài những đòi hỏi chung mà thông thường các công ty phải tuân theo như: ý chí, năng lực, ngành nghề, vốn góp, mục đích, sự tham gia vào kết quả kinh doanh, công ty cổ phần cần phải tuân thủ một số điều kiện đặc trưng: Số lượng cổ đông ít nhất là 7, cổ đông không cần phải có tư cách thương nhân, vốn điều lệ tối thiểu là 37.000 euro3 và không được góp vốn bằng industrie (góp sức4).

- Về hình thức, luật quy định rằng, để hoàn thành việc thành lập công ty cổ phần, các sáng lập viên phải tuân theo các quy định về soạn thảo điều lệ, thực hiện việc góp vốn, chỉ định người quản lý và bước cuối cùng là phải đăng ký kinh doanh.

Việc không tuân thủ những điều kiện đó sẽ dẫn đến nhiều chế tài khác nhau. Những công ty không tồn tại trên thực tế hay mang tính gian lận sẽ bị vô hiệu. Chế tài tương tự đối với trường hợp ngành nghề của công ty trái pháp luật. Tuy nhiên, sự không thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí cũng như sự không có năng lực pháp luật của những người thành lập không phải là nguyên nhân dẫn đến sự vô hiệu của công ty mà công ty vẫn có hiệu lực giữa những người có năng lực hoặc giữa những người mà ý chí của họ được thể hiện hợp lệ, với điều kiện là số lượng của những người còn lại này phải có ít nhất là 7. Đối với những đòi hỏi riêng đối với công ty cổ phần, ví dụ như về số lượng cổ đông tối thiểu hay về mức vốn điều lệ, việc không tuân thủ chúng sẽ không bị cưỡng chế bằng sự vô hiệu. Tuy nhiên, tất cả những người liên quan có thể yêu cầu giải thể công ty vì lý do công ty không đáp ứng quy định của pháp luật.

Trách nhiệm dân sự đối với những sáng lập viên cũng được đặt ra nếu như do hành vi, sự thiếu thận trọng hay sai lầm của mình mà công ty bị hủy bỏ, chẳng hạn như trường hợp họ làm ngơ khi vốn góp không đúng trên thực tế so với trong điều lệ. Trong trường hợp này, những người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thật vậy, những người sáng lập và người điều hành có thể bị buộc tội đối với việc lưu hành cổ phần bất hợp lệ, tội phạm được cấu thành nếu như cổ phần được phát hành trước khi đăng ký kinh doanh, hoặc sau khi đăng ký kinh doanh nhưng thủ tục này đạt được bằng sự gian lận hoặc trong những điều kiện bất hợp pháp (Điều L.242 – 1 - Bộ luật Thương mại). Điều này tương tự đối với việc gian lận nhằm tăng giá trị của phần vốn góp bằng tài sản bằng hiện vật hay bằng quyền tài sản (Bộ luật Thương mại, Điều 242 – 2).

1.2. Quản lý

Kể từ năm 1966, theo Luật số 66-537 ngày 24/7/1966 về các công ty thương mại, các sáng lập viên công ty cổ phần được quyền lựa chọn một trong hai cơ cấu sau cho việc quản lý doanh nghiệp:

- Bộ máy quản lý theo kiểu Pháp, với hội đồng quản trị và chủ tịch kiêm tổng giám đốc. Chức năng của chủ tịch và tổng giám đốc có thể tách rời;

- Bộ máy quản lý theo kiểu Đức, với hội đồng giám sát và ban giám đốc. Việc bãi nhiệm thành viên ban giám đốc có thể thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông hay của hội đồng giám sát.

* Cơ cấu kinh điển: hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị và tổng giám đốc

Chức danh chủ tịch – tổng giám đốc (P-DG – Président-Directeur Général) được tạo nên bởi Luật ngày 16/11/1940. Luật về các công ty thương mại năm 1966 đã thay thế nó bằng chức danh chủ tịch hội đồng quản trị (Président du Conseil d’administration). Tuy nhiên, trên thực tế, người ta không sử dụng tên gọi mới mà thông thường họ vẫn giữ theo tên cũ và chắc chắn là do uy tín của ký hiệu P-DG. Luật NRE ngày 15/5/2001 đã đưa vào khả năng có thể tách rời chức năng của chủ tịch và tổng giám đốc. Sự sửa đổi này rõ ràng là chịu ảnh hưởng của thực tế ở Mỹ nơi có sự phân biệt giữa directors và officers. Quyền lựa chọn sẽ thuộc về hội đồng quản trị và cơ quan này phải thông báo sự lựa chọn của mình cho các cổ đông và người thứ ba trong những điều kiện luật định (Bộ luật Thương mại, điều L 225-51-1; Nghị định ngày 23/3/1967, Điều 68 được sửa đổi bởi Nghị định ngày 3/5/2002). Việc lựa chọn này sẽ theo một trong hai cách thức sau đây:

- Tách bạch giữa hai chức năng: Chủ tịch là người đại diện cho hội đồng mà mình tổ chức và điều hành công việc trong khi tổng giám đốc đại diện cho công ty với người thứ ba và được trao những quyền rộng rãi nhất để hoạt động trên cương vị của mình;

- Gộp hai chức năng: chủ tịch hội đồng quản trị đảm bảo việc quản lý chung cả công ty. Trong trường hợp này những qui định liên quan đến tổng giám đốc được áp dụng đối với chủ tịch hội đồng quản trị.

Số lượng thành viên của hội đồng quản trị do điều lệ công ty qui định, nhưng ít nhất là 3 thành viên và nhiều nhất là 18 thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225 – 17, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 104). Trong trường hợp sáp nhập, thành viên hội đồng quản trị của công ty bị sáp nhập được trở thành thành viên của công ty sáp nhập, và trong trường hợp này, số lượng thành viên của hội đồng quản trị được vượt quá 18 trong thời hạn 3 năm kể từ ngày sáp nhập, nhưng không được vượt quá 24 thành viên.

Về điều kiện của thành viên hội đồng quản trị, các thành viên hội đồng quản trị phải là chủ sở hữu một số lượng cổ phần được điều lệ công ty qui định (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-25); và có thể chỉ là một cổ phần. Nếu vào thời điểm được bầu làm thành viên hội đồng quản trị mà điều kiện này chưa được đáp ứng thì người được bầu sẽ có thời hạn 3 tháng để đáp ứng đủ điều kiện này.

Mặc dù thành viên hội đồng quản trị không cần phải là thương nhân, nhưng những cá nhân bị cấm hoạt động thương mại không thể trở thành thành viên hội đồng quản trị công ty. Đó là những người bị kết án một số tội hay bị phá sản cá nhân. Ngoài ra, những công chức, nghị sĩ, nhân viên các Bộ, các chức danh bổ trợ tư pháp không thể đồng thời là thành viên hội đồng quản trị một công ty cổ phần nào đó. Ngược lại, luật sư hay công chứng viên có thể được bầu làm thành viên hội đồng quản trị với một số điều kiện do luật định.

Về độ tuổi, người chưa thành niên chưa được thoát quyền5 không thể là thành viên hội đồng quản trị một công ty cổ phần. Hơn nữa, số lượng thành viên hội đồng quản trị có độ tuổi trên 70 không được vượt quá một phần ba tổng số lượng thành viên hội đồng quản trị đương nhiệm (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-19), trừ trường hợp điều lệ công ty có một điều khoản đặc biệt qui định một mức tuổi khác hay một tỷ lệ khác.

Đối với pháp nhân, chủ thể này vẫn có thể trở thành thành viên hội đồng quản trị tương tự như đối với thể nhân, nhưng chỉ với một điều kiện: pháp nhân này phải cử một đại diện thường trực tại trụ sở của công ty và người này phải tuân thủ những điều kiện và chịu trách nhiệm tương tự như một thành viên hội đồng quản trị là thể nhân.

Về vấn đề kiêm nhiệm, mặc dù việc làm thành viên hội đồng quản trị chỉ đòi hỏi phải tham gia vào các cuộc họp định kỳ của hội đồng, không đòi hỏi phải có mặt thường xuyên trong trụ sở của công ty, nhưng các nhà lập pháp Pháp vẫn cho rằng việc vượt quá một số lượng các cương vị cùng thực hiện một lúc sẽ làm cho thành viên hội đồng quản trị không thể hoàn thành công việc một cách chính xác. Ngoài lý do muốn cải thiện tính kỷ luật của thành viên hội đồng quản trị, các nhà làm luật còn mong muốn chống lại sự thiếu độc lập của thành viên hội đồng quản trị do sự kiêm nhiệm gây nên. Do vậy, một thể nhân không thể đồng thời là thành viên của trên 5 hội đồng quản trị hay hội đồng giám sát (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-21, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 110). Mức trần này cũng được áp dụng trong trường hợp đồng thời thực hiện các chức danh thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng giám sát, tổng giám đốc, thành viên ban giám đốc (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-94-1). Tuy nhiên, những chức vụ trong các công ty nước ngoài sẽ không được tính vào. Và mức trần đó cũng không được áp dụng cho pháp nhân. Ngược lại, nếu thể nhân thực hiện chức năng đại diện thường trực thì cũng sẽ tính vào mức trần này. Còn trong các công ty con mà không theo Điều L. 233-16 của Bộ luật Thương mại cũng không được tính.

Đối với chủ tịch hội đồng quản trị, chức danh này do hội đồng quản trị bầu và phải thỏa mãn những điều kiện sau:

- Chủ tịch nhất thiết phải là một thể nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-47);

- Có độ tuổi không được vượt quá 65 tuổi nhưng điều lệ công ty có thể bỏ qua điều kiện này (Bộ luật Thương mại, Điều L.225-48);

- Chủ tịch phải là thành viên hội đồng quản trị và do vậy, phải là cổ đông công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-47).

- Chủ tịch phải tuân theo qui tắc về kiêm nhiệm áp dụng đối với thành viên hội đồng quản trị. Do vậy anh ta không thể thực hiện trên năm chức vụ chủ tịch. Tuy nhiên có một điều khác với thành viên hội đồng quản trị là chức vụ thực hiện trong các công ty con không được tính đến trong việc tính mức trần (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-21, khoản 2).

Tổng giám đốc, về phần mình, được hội đồng quản trị, chứ không phải là đại hội đồng cổ đông, bổ nhiệm (Bộ luật Thương mại, Điều L. 255-51, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 106). Đây là người trực tiếp điều hành các hoạt động kinh doanh của công ty, vừa là người đại diện theo pháp luật của công ty. Ứng viên để được bầu làm tổng giám đốc phải thỏa mãn những điều kiện sau đây:

- Nhất thiết phải là một thể nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-51-1);

- Có độ tuổi không quá 65 tuổi. Điều lệ công ty có thể bỏ qua điều kiện này (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-54);

- Một người không thể thực hiện đồng thời hơn một chức vụ tổng giám đốc hay thành viên tổng giám đốc của các công ty cồ phần có trụ sở trên lãnh thổ Pháp (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-54-1, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 110). Tuy nhiên, có một ngoại lệ là, một chức vụ thứ hai có thể được thực hiện trong công ty con theo qui định tại Điều L. 233-16 của Bộ luật Thương mại;

- Tổng giám đốc có thể không phải là thành viên hội đồng quản trị, trừ khi điều lệ công ty qui định khác.

Theo đề nghị của tổng giám đốc, hội đồng quản trị có thể bầu một hay nhiều thể nhân, có độ tuổi không vượt quá 65 tuổi, trừ trường hợp điều lệ công ty qui định khác, để trợ giúp cho tổng giám đốc với chức danh là tổng giám đốc được ủy nhiệm. Số lượng tối đa của tổng giám đốc được ủy nhiệm do điều lệ công ty qui định, nhưng trong mọi trường hợp, nó không vượt quá năm người (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-53, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 107). Tổng giám đốc được ủy nhiệm không nhất thiết phải là cổ đông, cũng không nhất thiết phải là thành viên hội đồng quản trị.

* Cơ cấu tổ chức mới: ban giám đốc và hội đồng giám sát

Cấu trúc ban giám đốc và hội đồng giám sát là sự du nhập từ luật công ty cổ phần của Đức, nơi có sự phân biệt giữa Vorstand và Aufsichtsrat. Việc du nhập này, với Luật năm 1966, là nhằm đáp ứng mong muốn tách bạch giữa việc điều hành, được thực hiện bởi ban giám đốc, và kiểm soát, được dành cho hội đồng giám sát.

- Ban giám đốc

Số lượng các thành viên của ban giám đốc do điều lệ công ty xác định, nhưng phải nằm trong khoảng từ 2 đến 5 thành viên. Đối với công ty có vốn điều lệ từ 1.500.000 Euro trở lên, công ty có thể chỉ lựa chọn 1 giám đốc, có tư cách như một tổng giám đốc duy nhất (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225 – 58).

Để có thể được bầu làm thành viên của ban giám đốc, các ứng viên phải đáp ứng những điều kiện luật định sau đây:

+ Điều kiện về tuổi tương tự như đối với chủ tịch và tổng giám đốc ở cấu trúc trên, nghĩa là phải dưới 65 tuổi, trừ khi điều lệ công ty bỏ qua qui định này (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225 – 60);

+ Phải là thể nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L.225-59);

+ Không nhất thiết phải là cổ đông, trừ khi điều lệ công ty đòi hỏi ngược lại;

+ Không thể đồng thời là thành viên của nhiều ban giám đốc công ty cổ phần có trụ sở trên lãnh thổ Pháp (Bộ luật Thương mại, Điều l. 225-67, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 110). Tuy nhiên, qui định này không áp dụng đối với chức vụ thứ hai được thực hiện trong một công ty con;

+ Thành viên ban giám đốc không thể là thành viên của hội đồng giám sát.

Cũng tương tự như việc tổng giám đốc được hội đồng quản trị chọn, thành viên của ban giám đốc được bầu bởi hội đồng giám sát (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-59). Nhiệm kỳ của ban giám đốc do điều lệ công ty ấn định, nhưng phải nằm trong khoảng giữa 2 và 6 năm (Bộ luật Thương mại, Điều L.225-62); trong trường hợp điều lệ công ty không qui định, nhiệm kỳ sẽ là 4 năm, tức là thời hạn ngắn nhất của nhiệm kỳ thành viên hội đồng quản trị. Cũng giống như thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban giám đốc được bầu lại một cách không hạn chế.

Giống như các cơ quan tập thể khác, ban giám đốc hoạt động trên cơ sở thảo luận. Việc thảo luận cũng như thể thức ra quyết định của cơ quan này do điều lệ công ty qui định. Các cuộc họp sẽ được chủ tọa bởi chủ tịch ban giám đốc, người được hội đồng giám sát chọn trong số các thành viên ban giám đốc.

Các thành viên của ban giám đốc thông thường chuyên môn hóa trong một lĩnh vực hoạt động kinh doanh và do vậy thường phụ trách các phòng tương ứng với lĩnh vực đó. Đây thật sự là việc phân công nhiệm vụ được bảo đảm trên cơ sở sự cho phép của hội đồng giám sát.

- Hội đồng giám sát

Thành viên hội đồng giám sát được chỉ định trong điều lệ công ty và sau đó, được bầu bởi đại hội đồng cổ đông (Bộ luật Thương mại, Điều L. 225-75). Số lượng thành viên hội đồng giám sát do điều lệ công ty qui định, luật chỉ qui định mức tối thiểu là 3 và mức tối đa là 18. Số lượng tối đa này có thể tăng thêm trong trường hợp thành viên hội đồng giám sát được bầu thêm bởi người lao động cũng như bởi người lao động là cổ đông công ty. Tương tự như qui định áp dụng cho hội đồng quản trị, mức trần 19 thành viên có thể tăng lên 24. Cũng tương tự như đối với thành viên hội đồng quản trị, thành viên hội đồng giám sát phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

+ Phải là cổ đông (Bộ luật Thương mại, Điều 225-72);

+ Giới hạn về độ tuổi tương tự như thành viên hội đồng quản trị, tức là 65 tuổi;

+ Việc kiêm nhiệm các chức vụ phải tuân theo những hạn chế như đối với thành viên hội đồng quản trị;

+ Không được là thành viên của ban giám đốc;

+ Một pháp nhân có thể có một ghế tại hội đồng giám sát (Bộ luật Thương mại, Điều 225-76). Do vậy pháp nhân này phải chỉ định một đại diện thường trực như đối với thành viên hội đồng quản trị.

Nếu như quy chế của thành viên hội đồng giám sát gần giống với quy chế của hội đồng quản trị thì ngược lại, chức năng của hai cơ quan này lại rất khác nhau. Hội đồng quản trị là cơ quan xác định phương hướng hoạt động của công ty và giám sát việc thực thi chúng. Nó giải quyết tất cả những vấn đề liên quan đến sự vận hành của công ty, tiến hành việc kiểm soát và xác minh các hoạt động của công ty khi nó thấy cần thiết. Ngược lại, hội đồng giám sát, giống như tên gọi của mình, chỉ có chức năng kiểm soát và giám sát việc quản lý công ty, như Điều L. 225-68 của Bộ luật Thương mại đã qui định. Còn lại, những công việc quản lý được trao rất nhiều cho ban giám đốc, như Điều L. 225-64 của Bộ luật Thương mại đã qui định, bao gồm “những quyền hành rộng rãi nhất để hành động trong tất cả các tình huống nhân danh công ty”. Chúng ta có thể thấy ban giám đốc có những quyền giống như tổng giám đốc, thủ trưởng kinh doanh của công ty, và cả những quyền như hội đồng quản trị, người quyết định định hướng chiến lược của công ty, trong cấu trúc kinh điển.

Như vậy, luật công ty cổ phần của Pháp đã trao rất nhiều sự tự do cho những người soạn thảo điều lệ công ty cổ phần trong việc lựa chọn phương thức quản lý công ty. Không chỉ dừng lại ở vấn đế đó, các nhà đầu tư ở Pháp còn có nhiều sự lựa chọn khác đáng kể hơn: để đầu tư kinh doanh dưới hình thức một công ty cổ phần, các nhà đầu tư chẳng những hoạt động dưới hình thức công ty vô danh (SA) mà còn có thể hoạt động dưới các dạng công ty cổ phẩn khác, đó là công ty hợp vốn cổ phần và công ty cổ phần đơn giản.

2. CÔNG TY HỢP VỐN CỔ PHẦN (société en commandite par actions - SCA)

Đây là hình thức rất được thịnh hành vào khoảng thời gian từ 1807 đến 1905 ở Pháp và tạo nên “cơn sốt” vào thời bấy giờ. Điều này đặc biệt là do những qui định không mang tính khắt khe của nó. Và chính tính tự do và hài hòa trong tổ chức và hoạt động của loại hình này mà người Mỹ đã học hỏi để tạo nên loại hình limited partnership của họ. Thế nhưng, với sự cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệp khác như công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, loại hình này hiện nay không còn được thịnh hành nữa.

Công ty hợp vốn cổ phần được điều chỉnh bởi Điều L. 226-1 và các điều tiếp theo của Bộ luật Thương mại. Thông qua các quy định này cũng như qua thực tiễn, chúng ta có thể nghiên cứu cấu trúc và từ đó, đặc tính của loại hình này.

2.1 Cấu trúc của công ty hợp vốn cổ phần

Công ty hợp vốn cổ phần có nhiều điểm vừa giống với công ty cổ phần, vừa giống với công ty hợp vốn đơn giản. Thật vậy, theo khoản 1, Điều L. 226-1 của Bộ luật Thương mại, những qui định liên quan đến hai loại hình công ty này được áp dụng cho công ty hợp vốn cổ phần với điều kiện là những qui định đó phù hợp với những qui định đặc thù của Điều L. 226-1 và các điều tiếp theo.

Chúng ta sẽ hiểu rõ cấu trúc của công ty này thông qua quy chế của thành viên hợp vốn, thành viên hợp danh và người quản lý trong công ty.

* Thành viên hợp vốn (commanditaire)

Công ty hợp vốn cổ phần, như tên gọi của nó, là một loại công ty cổ phần. Nó khác với công ty hợp vốn đơn giản ở chỗ là nó có thể phát hành chứng khoán. Hơn nữa, những quyền của các thành viên góp vốn không phải được đại diện bằng phần vốn góp, mà là bằng cổ phần. Các thành viên hợp vốn là những cổ đông.

Về mặt tài chính, các thành viên hợp vốn chỉ chịu mất mát trong phạm vi vốn góp của mình. Khi công ty phá sản, thành viên hợp vốn được ưu tiên thanh toán số tiền còn lại trước thành viên hợp danh.

Thành viên hợp vốn bị loại trừ khỏi công việc quản lý nhân danh công ty. Điều đó không cấm họ tham gia vào việc kiểm soát nội bộ và tham gia vào những quyết định quan trọng của công ty nhưng họ không thể trở thành người quản lý công ty. Những quyền của thành viên hợp vốn được thực hiện trong khuôn khổ đại hội đồng thành viên, cơ quan vận hành theo phương thức đại hội đồng cổ đông. Do vậy, thành viên hợp vốn tham gia vào việc thông qua các báo cáo tài chính, quyết định việc phân chia lợi nhuận, tăng vốn điều lệ hay chia tách, hợp nhất, sáp nhập công ty. Tuy nhiên, về vấn đề thay đổi điều lệ, một hay các thành viên hợp danh có quyền phủ quyết (Bộ luật Thương mại, Điều L.226-11). Hội đồng giám sát, được chỉ định bởi đại hội đồng thành viên và chỉ bao gồm các thành viên hợp vốn, đảm bảo sự kiểm soát thường trực việc quản lý công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-9). Hội đồng này phải bao gồm 3 thành viên hợp vốn và đây cũng là số lượng tối thiểu của thành viên hợp vốn trong công ty hợp vốn cổ phần (Bộ luật Thương mại, Điều 226-1).

* Thành viên hợp danh (commandité)

Thành viên hợp danh được chỉ định trong điều lệ công ty. Do vậy, khi có một thành viên hội đồng mới gia nhập công ty thì đòi hỏi phải thay đổi điều lệ công ty, nghĩa là phải có sự đồng ý của hội đồng thành viên hợp vốn và hợp danh. Cũng giống như tất cả các thành viên khác, thành viên hợp danh bắt buộc phải góp vốn vào công ty, thế nhưng, phần vốn góp này không được ghi vào vốn điều lệ mà là trong một tài khoản đặc biệt.

Về mặt tài chính, các thành viên hợp danh của công ty hợp vốn cổ phần có quy chế như thành viên hợp danh trong công ty hợp danh. Họ phải chịu trách nhiệm một cách vô hạn, và liên đới nếu như có nhiều thành viên hợp danh, đối với mọi khoản nợ của công ty. Đổi lại, anh ta được hưởng lợi nhuận ưu đãi được qui định trong điều lệ, thường là phần trăm của lợi nhận thu được.

Về mặt thông qua các quyết định trong công ty, thành viên hợp danh có vai trò rất quan trọng:

- Trừ khi điều lệ công ty qui định khác, sự nhất trí của anh ta là không thể thiếu đối với việc bổ nhiệm và bãi nhiệm người quản lý (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-2); trong một số công ty, sự bổ nhiệm và bãi nhiệm này là một quyền riêng của của thành viên hợp danh.

- Thông qua báo cáo tài chính công ty và việc sử dụng kết quả kinh doanh;

- Có quyền phủ quyết đối với mọi quyết định sửa đổi điều lệ công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-11), chuyển đổi công ty;

- Có quyền phản đối việc đại hội đồng cấp cho người quản lý một khoản thù lao không được qui định trong điều lệ công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-8).

* Người quản lý (gérant)

Công ty hợp vốn cổ phần được điều hành bởi một hay nhiều người quản lý, là thể nhân hay pháp nhân, được chỉ định trong điều lệ công ty. Việc bổ nhiệm người quản lý hoàn toàn do điều lệ công ty qui định. Qui tắc tương tự cũng được áp dụng đối với việc bãi nhiệm, tuy nhiên có thêm một qui định khác là: “người quản lý bị bãi nhiệm bởi tòa án thương mại vì nguyên nhân chính đáng, theo đề nghị của tất cả thành viên hay công ty” (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-2, khoản 1).

Người quản lý không nhất thiết phải là thành viên hợp danh. Anh ta có quyền và nghĩa vụ tương tự như của tổng giám đốc công ty cổ phần (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-7). Do người quản lý có nhiều quyền như vậy nên trên thực tế, người ta thường chỉ định nhiều người quản lý hay bổ nhiệm một pháp nhân để quản lý công ty.

* Cơ chế kiểm soát

Ngoài hội đồng giám sát có chức năng đảm bảo việc kiểm soát thường trực việc quản lý công ty, việc kiểm soát công ty còn được bảo đảm thông qua một hay nhiều kiểm toán viên do đại hội đồng chỉ định (Bộ luật Thương mại, Điều L. 226-6) và thông qua những qui định từ Điều L. 225-38 đến Điều L.225-43 liên quan đến những thỏa thuận giữa một bên là công ty với bên kia là người quản lý, thành viên hội đồng giám sát hay cổ đông nắm giữ quyền biểu quyết trên 5%.

2.2. Những đặc tính của công ty hợp vốn cổ phần

* Sự mềm dẻo trong tổ chức

Đối với công ty cổ phần, luật điều chỉnh khá chặt chẽ và dành rất ít sự lựa chọn cho những người soạn thảo điều lệ công ty. Thế nhưng, đối với công ty hợp vốn cổ phần thì hoàn toàn ngược lại, luật dành rất nhiều sự tự do cho các bên.

Tuy nhiên, sự mềm dẻo quá mức này cũng mang lại nhiều bất lợi. Do dành nhiều sự tự do cho các bên nên rủi ro đặc biệt thường xảy ra ở các doanh nghiệp gia đình. Những bất đồng trong quan hệ giữa thành viên góp vốn và thành viên hợp danh cũng dễ dẫn đến sự giải thể công ty.

* Sự tương hỗ giữa những nhà kinh doanh

Ngoài công dụng như công ty hợp vốn đơn giản là tạo một kênh cho sự gặp nhau giữa vốn - được góp bởi thành viên hợp vốn, và ý tưởng - được góp bởi thành viên hợp danh, công ty hợp vốn cổ phần còn có những lợi thế quan trọng hơn từ quy chế công ty cổ phần của mình và do vậy, nó có thể phát hành chứng khoán. Các thành viên góp vốn được hưởng những thuận lợi về chuyển nhượng vốn tương tự như cổ đông. Công ty hợp vốn cổ phần có thể huy động vốn dễ dàng hơn, nhờ vào việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu.

(Còn nữa)

Chú thích:

1 Quang Thiện – Cẩm Hà: Hành trình 10 năm của một bộ luật, Báo Tuổi trẻ Online, Thứ Bảy ngày 29/04/2006, trên mạng http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=135103&ChannelID=6

2 Ngày nay, thuật ngữ này còn được gọi là tự do kinh doanh.

3 Một vài hoạt động đòi hỏi vốn nhiều hơn: 450 000 euro đối với các công ty bảo hiểm, 225 000 euro đối với ngân hàng, nhưng đối với các công ty biên soạn báo chí thì chỉ cần 300 euro hay chỉ 1500 cho các hợp tác xã thành lập dưới hình thức công ty cổ phần.

4 Việc góp vốn bằng industrie được thực hiện bằng tài năng của người góp vốn, nó được thực hiện bằng: uy tín (nhưng không phải là quyền lực chính trị, vì nếu như thế thì bị xem là phạm tội hình sự), kinh nghiệm, bí quyết (như chủ của các hầm rượu ở Bordeaux, nhà thiết kế trong các công ty tạo mẫu, khả năng ngửi trong ngành công nghiệp nước hoa)...

5 Thoát quyền là một chế định theo đó người chưa thành niên được hưởng những quyền dân sự của người đã thành niên theo những điều kiện, thủ tục nhất định.

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 4/2006

13 thg 2, 2008

CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP PHỔ BIẾN Ở PHÁP (Phần 2)

THS. LÊ MINH PHIẾU-   NCS tại Đại học Montesquieu – Bordeaux IV, Pháp

3. CÔNG TY CỔ PHẦN ĐƠN GIẢN (Société par actions simplifiée – SAS)

Những người sử dụng hình thức SA cho việc kinh doanh thường hay phàn nàn về sự thiếu mềm dẻo của nó. Sự cứng nhắc này cản trở rất lớn đến những hoạt động đầu tư chung và đến những công ty con chung (liên doanh). Do vậy, để khắc phục những hạn chế này, Hội đồng Quốc gia Các giới chủ Pháp đã kiến nghị sáng lập một hình thức công ty mới: công ty cổ phần đơn giản. Kiến nghị này đã được đáp ứng và ngày 3/1/1994, Luật Công ty Cổ phần Đơn giản đã ra đời.

Lúc đầu, theo mục đích của các nhà lập pháp, đây là công ty có một số lượng ít các thành viên nhưng các thành viên này lại có tiềm lực kinh tế lớn. Do vậy, các thể nhân, các tập đoàn lợi ích kinh tế (Groupement d'intérêt économique GIE), tập đoàn lợi ích kinh tế Châu Âu (Groupement européen d'intérêt économique - GEIE”), các công ty dự phần và hiệp hội không thể trở thành thành viên của công ty này.

Thế nhưng, Luật sửa đổi ngày 12/7/1999 đã tăng thêm những thuận lợi của loại hình công ty này một cách đáng kể bằng việc giảm đi những ràng buộc nhằm giúp cho nó được ưa chuộng hơn. Theo đó, công ty cổ phần đơn giản đã được thâm nhập vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các nhà đầu tư tư nhân: khả năng thành lập công ty cổ phần đơn giản một chủ, cho phép thể nhân được tham gia công ty cổ phần đơn giản... Bằng những sửa đổi này, công ty cổ phần đơn giản thật sự là một loại hình cạnh tranh với công ty trách nhiệm hữu hạn.

Là một dạng công ty cổ phần, công ty cổ phần đơn giản cũng áp dụng những chế định của SA trong khuôn khổ những chế định này phù hợp với những nguyên tắc riêng của công ty cổ phần đơn giản. Các nhà lập pháp Pháp đã loại trừ một cách rõ ràng việc áp dụng những qui định về quản lý công ty, về đại hội đồng cổ đông và về việc chuyển đổi của SA cho SAS (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-1, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 101).

3.1 Thành lập công ty cổ phần đơn giản

Việc thành lập công ty cổ phần đơn giản có thể là bắt đầu từ đầu hay từ việc chuyển đổi các hình thức doanh nghiệp khác. Việc chuyển đổi một công ty sang công ty cổ phần đơn giản đòi hỏi phải có một quyết định trên cơ sở nhất trí giữa các thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-3).

Bất kỳ người nào, thể nhân hay pháp nhân, công ty có mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, dù vốn điều lệ bao nhiêu, hiệp hội hay tập đoàn, đều có thể trở thành thành viên của công ty cổ phần đơn giản. Công ty không đòi hỏi phải có nhiều thành viên và do vậy, nhờ vào công ty cổ phần đơn giản, người ta có thể thành lập công ty cổ phần một chủ, được gọi là công ty cổ phần đơn giản một chủ (SASU – Société par actions simplifiée unipersonnelle).

Vốn điều lệ của công ty cổ phần đơn giản ít nhất phải là 37.000 euro. Điều L.227-2 của Bộ luật Thương mại qui định rằng công ty cổ phần đơn giản không thể phát hành chứng khoán ra công chúng. Mục đích của các nhà lập pháp là nhằm đảm bảo tính đóng của công ty. Tuy nhiên, các thành viên của công ty có thể phát hành chứng khoán giữa họ với nhau.

Những qui tắc về hình thức để thành lập và đăng ký kinh doanh công ty cổ phần đơn giản là những qui định được áp dụng cho công ty cổ phần (Bộ luật Thương mại, Điều L.227 –1, khoản 3).

3.2 Quản trị và điều hành

Những điều kiện quản lý công ty được điều lệ công ty tự do qui định (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-5). Nó bao gồm điều kiện bổ nhiệm, bãi nhiệm số lượng, nhiệm kỳ, cách thức trả thù lao và cả quyền hành của người quản lý. Duy chỉ có một cơ quan được các nhà lập pháp áp đặt, đó là chủ tịch, người đại diện cho công ty cổ phần đơn giản đối với người thứ ba (Bộ luật Thương mại, Điều L.227 – 6). Điều cần lưu ý là chức năng này, khác với công ty cổ phần, có thể được đảm nhiệm bởi một pháp nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-8). Điều lệ công ty có thể qui định rằng chủ tịch sẽ được chọn trong số những cổ đông thuộc loại xác định nào đó.

Bên cạnh chủ tịch, điều lệ có thể thiết lập các cơ quan khác với những tên gọi, chức năng và phương thức quyết định do điều lệ tự do qui định. Việc kiểm soát công ty cũng do điều lệ qui định.

Chế độ về trách nhiệm dân sự của thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc của công ty cổ phần sẽ điều chỉnh trách nhiệm của chủ tịch và những người quản lý của công ty cổ phần đơn giản (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-8). Giải pháp tương tự cũng được áp dụng đối với trách nhiệm hình sự.

Phương thức thực hiện quyền biểu quyết trong công ty, về nguyên tắc, sẽ do điều lệ qui định; không nhất thiết phải có sự phù hợp giữa tỷ lệ số cổ phần và quyền biểu quyết. Điều lệ cũng sẽ tự do lựa chọn phương thức tham khảo ý kiến của các thành viên. Tuy nhiên, mọi quyết định về việc thay đổi vốn, sáp nhập, chia tách, giải thể, chuyển đổi, bổ nhiệm kiểm toán viên, thông qua báo cáo tài chính hàng năm và phân chia lợi nhuận nhất thiết phải thông qua trong khuôn khổ của một hội đồng (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-9, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 125). Việc không tuân theo qui định này có thể bị chế tài hình sự (Bộ luật Thương mại, Điều L.244-2, sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 128).

3.3 Chuyển nhượng cổ phần

Một trong những đổi mới quan trọng của SAS đó là sự cho phép các thành viên công ty có thể đưa vào điều lệ công ty điều khoản không thể chuyển nhượng được (clause d’inaliénabilité). Một khi áp dụng điều khoản này thì cổ phần sẽ không được chuyển nhượng. Thế nhưng điều khoản này không thể áp dụng quá thời hạn 10 năm (Bộ luật Thương mại – Điều L.227 – 14). Hơn nữa, việc vận dụng điều khoản này cũng phải tuân theo một vài điều kiện nhất định (như chỉ áp dụng đối với một vài cổ đông, chỉ áp dụng đối với một tỉ lệ cổ phần nhất định của những người chính yếu của SAS...).

Tương tự như trường hợp trên, điều lệ công ty cũng có thể đưa vào điều khoản ràng buộc các cổ đông phải ưu tiên chào bán cổ phần của mình cho các cổ đông còn lại cho công ty. Điều lệ công ty cũng có thể quy định rằng các cổ đông khi muốn chuyển nhượng cổ phần của mình phải thông báo trước cho các cổ đông khác. Như vậy, việc chuyển nhượng cổ phần trong SAS không quá tự do như trong SA, mà cũng không quá bị hạn chế như trong Công ty trách nhiệm hữu hạn (SARL). Và chính những người thông qua điều lệ của công ty sẽ lựa chọn mức độ của sự tự do chuyển nhượng ấy.

3.4 Công ty cổ phần đơn giản một chủ (Société par actions simplifiée unipersonnelle - SASU)

Việc cho ra đời công ty này là một tiến bộ rất đáng kể của Luật năm 1999. Công ty này chỉ có một thành viên, có thể là người quản lý công ty hay không. Đặc điểm một thành viên có thể có ngay từ khi công ty mới được thành lập và cũng có thể xuất hiện trong quá trình tồn tại của công ty cổ phần đơn giản. Công ty cổ phần đơn giản một thành viên, do có sự thay đổi về số lượng thành viên, có thể trở thành nhiều thành viên rồi sau đó có thể trở lại một thành viên mà không cần chuyển đổi pháp lý cho công ty. Như vậy, ở Pháp, ngoài hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (EURL), một cá nhân có thể một mình tiến hành hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty cổ phần đơn giản. Tương tự, trong các tập đoàn công ty, công ty cổ phần đơn giản một thành viên là một hình thức khá hấp dẫn để thành lập các công ty con có 100% vốn của một chủ.

Khi công ty cổ phần đơn giản chỉ có một thành viên, chế độ pháp lý của nó có một số đặc điểm riêng như sau:

- Thành viên duy nhất được thực hiện những quyền của thành viên trong công ty cổ phần đơn giản nhưng quyết định tập thể được chuyển sang quyết định đơn phương (Bộ luật Thương mại, Điều L.227-1, khoản 2); báo cáo về quản lý và về tài chính công ty phải được chủ tịch thực hiện và được thông qua bởi thành viên duy nhất, người mà không thể ủy quyền cho người khác. Các quyết định phải được ghi vào sổ quyết định;

- Khi giải thể công ty, nếu thành viên duy nhất là pháp nhân thì toàn bộ tài sản của công ty sẽ được chuyển cho thành viên duy nhất đó, không cần làm thủ tục thanh lý tư pháp (Bộ luật Dân sự, Điều 1844-5). Nếu thành viên là thể nhân thì phải làm thủ tục thanh lý theo qui định chung;

- Không cần có sự can thiệp của kiểm toán viên đối với những thỏa thuận giữa công ty và người quản lý công ty. Nó chỉ cần ghi vào sổ quyết định.

4. CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN (Société à responsabilité limitée - SARL)

Kể từ khi Luật ngày 11/1/1985 ra đời, công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm hai loại: công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên (có ít nhất hai thành viên) và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (có duy nhất một thành viên).

4.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên (SARL pluripersonnelle)

Công ty trách nhiệm hữu hạn được du nhập vào Pháp bởi Luật ngày 7/3/1925, dựa theo mô hình được sáng lập vào năm 1892 (Gmbh) bởi Luật Công ty TNHH của Đức năm 1892). Hiện nay loại hình này được điều chỉnh bởi các điều từ L.223 –1 đến L. 223-43 của Bộ luật Thương mại.

4.1.1 Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn

Chế độ thành lập không có nhiều điểm đặc biệt, nó chủ yếu theo những quy đinh chung của luật công ty và đặc biệt là theo những qui định về thành lập SA.

- Điều kiện về nội dung:

Về ngành nghề, nguyên tắc chung là tự do, tất cả các hoạt động kinh tế đều có thể được thực hiện dưới hình thức SARL. Tuy nhiên, có một vài ngành nghề không được phép thực hiện dưới hình thức công ty này, chẳng hạn như bảo hiểm (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-1, khoản 4) hay đại lý thuốc lá. Đối với các ngành nghề tự do (luật sư, bác sỹ...), các nhà kinh doanh có thể lựa chọn công ty hành nghề tự do trách nhiệm hữu hạn, một phiên bản khác của SARL cổ điển.

Công ty trách nhiệm hữu hạn không được bao gồm quá 50 thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L. 223-3). Trong trường hợp vượt quá mức mức trần này, công ty có thời hạn 2 năm để chuyển đổi sang SA, hoặc là phải giảm số thành viên xuống đến mức 50, nếu không công ty tự động giải thể. Các thành viên không cần có tư cách thương nhân.

Về vốn pháp định, trước kia, luật qui định rằng, muốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, vốn điều lệ ít nhất phải là 7.500 euro, riêng đối với công ty báo chí là 300 euro và hợp tác xã thủ công là 1.500 euro. Thế nhưng, Luật ngày 5/5/2003, với mục đích làm cho việc thành lập loại hình công ty này trở nên đơn giản hơn và nhanh hơn, đã bỏ qui định về vốn pháp định đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, cả nhiều thành viên lẫn một thành viên. Theo đó, kể từ ngày 6/5/2003, ngày có hiệu lực của Luật ngày 5/5/2003, chỉ với 1 euro, nhà đầu tư ở Pháp có thể thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn.

Việc góp vốn có thể thực hiện bằng tiền, bằng tài sản, quyền tài sản hay bằng góp sức (industrie). Việc góp vốn bằng industrie theo cách thức được xác định trong điều lệ (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-7, khoản 2, được sửa đổi bởi Luật NRE, Điều 124). Việc góp vốn bằng tài sản và quyền tài sản phải tuân theo những qui định rất chặt chẽ về định giá.

- Điều kiện về hình thức:

Những qui định về thủ tục thành lập công ty cổ phần cũng đồng thời được áp dụng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn. Tương tự, những sáng lập SARL cũng phải chịu trách nhiệm dân sự và hình sự đối với những hành vi bất hợp pháp trong quá trình thành lập tương tự như các sáng lập viên của công ty cổ phần.

4.1.2 Quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn

Cấu trúc của SARL gọn nhẹ hơn so với SA vì nó chỉ có một cơ quan điều hành, đó là người quản lý. Quy chế của người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn có nhiều điểm giống với tổng giám đốc trong SA.

Luật qui định rằng, người quản lý phải là thể nhân. Mặc dù người này không cần phải có tư cách thương nhân nhưng họ không được nằm trong các trường hợp bị cấm hành nghề thương mại. Những vần đề còn lại như độ tuổi, bằng cấp, thâm niên... sẽ do điều lệ công ty qui định. Họ có thể được chọn trong số các thành viên hoặc người thứ ba, với độ tuổi không bị hạn chế và việc kiêm nhiệm các chức vụ không bị giới hạn.

Người quản lý đầu tiên được chỉ định trong điều lệ hay trong một văn bản riêng lẻ (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-18). Việc bổ nhiệm người quản lý mới phải được đăng báo và phải được thông báo cho Phòng Đăng ký Thương mại và Doanh nghiệp. Trừ khi điều lệ có qui định khác, nhiệm kỳ của người quản lý kéo dài theo sự tồn tại của công ty. Ngoài lý do chết và từ nhiệm, người quản lý có thể chấm dứt chức vụ do quyết định của các thành viên hay quyết định tư pháp. Quyết định của các thành viên được công nhận khi có một thành viên hoặc nhóm thành viên nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thông qua. Còn quyết định tư pháp được ban hành bởi tòa án khi có thành viên, bất kể là nắm giữ bao nhiêu phần trăm vốn góp, yêu cầu tòa án bãi nhiệm người quản lý với “lý do chính đáng” (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-25, khoản 2).

Đối với công ty chỉ có duy nhất một người quản lý, thì người này được có những quyền rộng rãi nhất để hành xử trong tất cả các tình huống nhân danh công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-18). Còn đối với công ty có nhiều người quản lý, thì mỗi người quản lý đều có quyền ngang nhau trong việc ký kết văn bản nhân danh công ty. Chỉ cần một trong số những người quản lý ký vào hợp đồng thì công ty đã ràng buộc trách nhiệm của mình vào hợp đồng đó. Một người quản lý có thể phản đối văn bản mà người quản lý khác đã ký kết, nhưng sự phản đối này không có hiệu lực đối với người thứ ba, trừ khi người quản lý này đã thông báo ý kiến phản đối của mình đối với người thứ ba đó (tức người đã ký hợp đồng với người quản lý kia) trước khi ký hợp đồng. Do vậy, nếu người thứ ba đã biết ý kiến phản đối này mà vẫn ký kết hợp đồng thì hợp đồng đó không thể bắt buộc công ty phải thực hiện. Mặt khác, những người quản lý phải có nhiệm vụ giám sát lẫn nhau và sự thiếu giám sát đó có thể là một nguyên nhân dẫn đến trách nhiệm của người quản lý mà người đồng quản lý kia có thể viện dẫn để biện hộ cho hành vi của mình. Việc tồn tại nhiều người quản lý trong cùng một công ty trách nhiệm hữu hạn đặt ra nhiều khó khăn. Tuy nhiên, điều lệ công ty thường phân công mỗi người quản lý phụ trách một lĩnh vực khác nhau hay đòi hỏi họ phải hành động cùng nhau.

4.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (Entreprise unipersonelle à responsabilité limitée - EURL)

Pháp luật Pháp trước kia quan niệm công ty là một hợp đồng được ký kết giữa ít nhất hai thành viên và do vậy, công ty chỉ có một thành viên không thể tồn tại. Thế nhưng, quan niệm đó không phù hợp với thực tiễn và nhu cầu kinh doanh nên cuối cùng, với Luật ngày 11/7/1985, dựa theo mô hình Einmann- GmbH của Đức, các nhà làm luật Pháp đã bắt đầu công nhận công ty một chủ có tên là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Chế độ pháp lý cơ bản của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là chế độ của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên với những qui định riêng cần thiết phù hợp với đặc điểm một thành viên. Việc áp dụng qui định của công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên cho công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mang lại nhiều thuận lợi, nó cho phép nhà làm luật không cần phải thiết kế lại hoàn toàn một hình thức công ty mới. Hơn nữa, nó còn đơn giản hóa việc chuyển từ đặc điểm nhiều thành viên sang đặc điểm một thành viên và ngược lại. Theo đó, nếu thành viên duy nhất chuyển một phần vốn cho người khác hay một người khác góp thêm vốn vào để tăng vốn cho công ty, công ty sẽ trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên mà không cần chuyển đổi pháp lý.

4.2.1 Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Việc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể là một kết quả từ việc tập trung tất cả phần vốn góp của SARL vào tay một người. EURL còn có thể được thành lập bởi một quyết định đơn phương của một thể nhân để tạo thành một vỏ bọc pháp lý cho việc kinh doanh hoặc của một pháp nhân, để tạo thành một kỹ thuật cho phép chuyển hoạt động cho các công ty con trong khuôn khổ một tập đoàn. Một người, có thể là thể nhân lẫn pháp nhân, đều có thể thành lập nhiều EURL. Ngược lại, EURL không thể thành lập EURL khác (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-5).

Về ngành nghề, EURL được hoạt động trong các lĩnh vực tương tự như đối với SARL. Những người hành nghề tự do có thể hoạt động trong khôn khổ công ty hành nghề tự do trách nhiệm hữu hạn một chủ (SELARL unipersonelle). Đối với ngành nông nhiệp, các nhà làm luật đã thiết kế một công ty dân sự, có tên là công ty trách nhiệm hữu hạn nông nghiệp (EARL), mà công ty này có thể là một thành viên.

Thành viên duy nhất nếu là thể nhân do không có tư cách thương nhân, có thể là một người không có năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên. Trong trường hợp này, việc quản lý công ty sẽ do người thứ ba thực hiện.

Về vốn, tương tự như SARL, kể từ ngày 6/5/2003, vốn pháp định đối với EURL đã bị xóa bỏ. Thành viên duy nhất của công ty thực hiện việc góp vốn bằng tiền mặt, bằng tài sản hay quyền tài sản, không thể góp vốn bằng industrie.

4.2.2 Hoạt động của EURL

- Quản lý

Thành viên duy nhất có thể tự đảm nhiệm chức vụ quản lý công ty. Trong trường hợp này, mặc dù thành viên – người quản lý này là người chủ duy nhất của công ty, nhưng không phải là người có thể làm bất cứ điều gì mà phải tuân thủ sự tách bạch tồn tại giữa những công việc của công ty và công việc cá nhân của mình. Do vậy, thành viên duy nhất này mà trong quá trình quản lý, ngoài khoản tiền lương hàng tháng hợp lệ được “thông qua”, không được rút tiền từ quỹ của công ty. Để đảm bảo tính khả thi của quy định này, pháp luật Pháp đã dự liệu khá cụ thể. Nếu như người quản lý là thành viên duy nhất này đã rút công quỹ, thì chế tài sẽ được tuyên như là đã chiếm đoạt tài sản riêng của một pháp nhân. Trong trường hợp phục hồi khả năng thanh toán hay thanh lý tư pháp, nếu như thành viên duy nhất này đã rút tài sản từ công ty thì chế độ trách nhiệm hữu hạn của EURL sẽ không còn được áp dụng1.

Việc quản lý công ty có thể được đảm trách bởi người thứ ba. Trong trường hợp này, về phương diện pháp lý, người quản lý có tư cách như một người được ủy quyền, trong khi về phương diện thuế và lao động, anh ta có tư cách như người lao động làm công ăn lương. Trong trường hợp EURL được thành lập bởi một pháp nhân, người quản lý nhất thiết phải là một thể nhân không phải là thành viên công ty vì trong công ty trách nhiệm hữu hạn, việc quản lý không thể được đảm nhận bởi một pháp nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-18, khoản 1).

- Thông qua quyết định

Quyền hạn của hội đồng công ty được thực hiện bởi thành viên duy nhất của công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-21) và khi tiến hành việc này, anh ta không cần phải có nghĩa vụ trriệu tập chính mình (Bộ luật Thương mại, Điều L.223-31). Chính thành viên duy nhất sẽ là người thông qua báo cáo tài chính của công ty, quyết định phân chia lợi nhuận, sửa đổi điều lệ. Nhưng những quyết định này muốn có hiệu lực phải được ghi vào sổ quyết định.

Thành viên duy nhất cũng chính là người thông qua các thỏa thuận mà công ty ký kết. Và tuy là người nắm giữ 100% số vốn của công ty nhưng thành viên duy nhất không thể tùy tiện ký kết hợp đồng với công ty. Chẳng hạn, việc thành viên duy nhất vay tài sản của công ty là một điều bị cấm, trừ phi thành viên duy nhất là một pháp nhân.

5. CÔNG TY HỢP DANH (Société en nom collectif - SNC)

Công ty hợp danh là một loại hình công ty xuất hiện từ rất lâu đời. Các nhà sử học đã chứng minh rằng, những công ty đầu tiên xuất hiện trên thế giới (vào thời Trung Cổ ở Châu Âu) chính là những công ty có nhiều điểm tương đồng với công ty hợp danh và có một số khác tương đồng với công ty hợp vốn đơn giản của Pháp hiện nay. Chính vì sự xuất hiện từ rất lâu đời này, cộng với tính đơn giản trong hoạt động của nó, đã giải thích rằng trong một thời gian rất dài, công ty này như một kiểu mẫu gốc của các công ty.

Công ty hợp danh là công ty có đặc điểm thương mại rõ nét nhất. Giống như công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, nó là một công ty thương mại, kể cả khi ngành nghề của công ty không là các hành vi thương mại theo luật của Pháp. Nhưng tính thương mại đặc biệt thể hiện ở yếu tố thành viên công ty: các thành viên này nhất thiết phải có tư cách thương nhân, do vậy, những ai không đáp ứng đủ những điều kiện để trở thành thương nhân thì không thể trở thành thành viên công ty hợp danh.

Công ty hợp danh là loại hình công ty mà các thành viên dễ gặp rủi ro nhất: trách nhiệm của các thành viên vừa vô hạn, vừa liên đới với nhau. Mặc khác, nó cũng là công ty có tính đóng nhất: Luật qui định rằng, khi một trong số các thành viên chết, bị phá sản hay bị cấm thực hiện một hoạt động thương mại, công ty sẽ tự động bị giải thể, trừ khi điều lệ của công ty qui định khác (Bộ luật Thương mại, Điều L.221-16). Việc một thành viên cũ ra khỏi công ty hay một thành viên mới vào công ty cũng đòi hỏi phải có sự nhất trí của tất cả các thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L.221-13).

Và cuối cùng, đây là công ty mà luật ít can thiệp và thay vào đó là sự tự do hợp đồng của các thành viên được luật trao cho một phạm vi rất rộng rãi.

5.1 Việc sử dụng công ty hợp danh

5.1.1 Việc sử dụng công ty hợp danh bởi thể nhân

Công ty hợp danh, như chúng ta đã thấy, là một cấu trúc khá rủi ro đối với các thành viên, đặc biệt là nếu chúng ta so sánh nó với công ty trách nhiệm hữu hạn. Người ta sẽ không bao giờ chọn công ty hợp danh để thực hiện chung một hoạt động chuyên nghiệp, trừ khi theo truyền thống như đối với các dược sĩ, hoặc trừ khi người ta không thể nào làm khác đi như những người bán lẻ thuốc lá. Thế nhưng, đâu là lý do khiến ngày nay người ta vẫn thành lập công ty hợp danh?

Trước hết là vì công ty hợp danh thể hiện được tính đảm bảo bí mật, bởi vì nó không phải nộp báo cáo tài chính cho thư ký tòa thương mại, trừ khi tất cả các thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn. Điều này không buộc họ phải phơi bày những tài sản nhạy cảm của mình.

Nhưng chính sự hấp dẫn về thuế mới là điều lý giải cho sự thành công của công ty hợp danh. Nếu như có sự minh bạch về thuế, công ty hợp danh sẽ không bị đóng thuế thu nhập doanh nghiệp; các thành viên phải đóng thuế tương ứng với phần lợi nhuận mà mình có được. Ngược lại, khi kết quả thua lỗ, mỗi thành viên chuyển vào báo cáo thu nhập của mình phần thua lỗ tương ứng của mình trong công ty. Trong một thời gian rất dài, những khoản lỗ từng loại có thể được khấu trừ trên tổng thu nhập. Vì lý do này, công ty hợp danh trở thành một công cụ kỳ diệu để đóng thuế ít hơn. Do vậy mà những người bị đánh thuế cao thường là thành viên của công ty hợp danh.

51.2 Việc sử dụng công ty hợp danh trong khuôn khổ các tập đoàn

Nếu trong sơ đồ tổ chức của các tập đoàn, người ta thấy có nhiều công ty hợp danh, đó là lý do thuế. Khi công ty con thua lỗ, nhờ vào tính minh bạch trong cấu trúc của nó, những khoản lỗ của công ty hợp danh được phép chuyển đến công ty mẹ. Từ cách đó, những khoản lỗ của công ty con được khấu trừ vào kết quả kinh doanh của công ty mẹ và do vậy, công ty mẹ sẽ đóng thuế ít hơn.

5.2 Thành lập công ty hợp danh

Để thành lập công ty hợp danh, số thành viên ít nhất phải là 2. Thành viên có thể là thể nhân hay pháp nhân. Vợ và chồng cũng có thể là các bên của cùng một công ty hợp danh. Các thành viên phải có đầy đủ tư cách thương nhân (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 -1) và phải có năng lực hành vi để hành nghề thương mại. Do đó, người chưa thành niên, người đã thành niên nhưng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, dù có người giám hộ cũng không thể là thành viên của công ty hợp danh.

Về ngành nghề, về nguyên tắc, công ty hợp danh có thể hoạt động trong bất cứ ngành nghề nào, kể cả thương mại hay dân sự. Tuy nhiên, có một số ngành nghề bị cấm hoạt động dưới hình thức công ty này như: bảo hiểm và các nghề tự do được pháp luật điều chỉnh. Chẳng hạn, các bác sỹ và luật sư không thể hoạt động nghề nghiệp của mình trong khuôn khổ công ty hợp danh vì họ bị cấm, một cách trực tiếp hay gián tiếp, có tư cách thương nhân.

Luật không quy định một ràng buộc nào về vốn điều lệ đối với công ty hợp danh: không có vốn tối thiểu, không có thời hạn phong tỏa vốn, không cấm việc góp vốn bằng industrie. Trong loại hình công ty này, vốn điều lệ có chức năng phân chia quyền hạn cho các thành viên công ty hơn là để thực hiện bảo đảm sự cam kết cho các khoản nợ, vì trách nhiệm cá nhân của các thành viên đối với các khoản nợ này đã là sự bảo đảm tốt nhất.

Ngoài ra, các quy định khác liên quan đến quá trình thành lập các công ty nói chung cũng sẽ áp dụng cho công ty hợp danh. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một đặc thù riêng của công ty hợp danh: Điều L.235 – 2 của Bộ luật Thương mại quy định rằng việc hoàn thành thủ tục đăng báo là bắt buộc và sự không hoàn thành nó có thể dẫn đến chế tài là công ty bị vô hiệu.

5.3 Người quản lý công ty hợp danh

5.3.1 Qui chế đối với người quản lý

Luật chứa đựng các quy định khá chi tiết về qui chế của người quản lý công ty hợp danh, nhưng những quy định này phần lớn chỉ đơn giản là để bổ sung trong trường hợp điều lệ công ty chưa có quy định. Điều đó có nghĩa là các thành viên có một sự tự do rất rộng rãi để tố chức công việc quản lý phù hợp.

Thật vậy, các thành viên sẽ chỉ định một hoặc nhiều người quản lý, hoặc là theo nguyên tắc nhất trí, hoặc là trên cơ sở đa số theo quy định trong điều lệ công ty. Không hề có một quy tắc bắt buộc trong việc chỉ định người quản lý và điều lệ sẽ tố chức việc quản lý theo ý muốn của các thành viên. Tất cả hình thức khác nhau đều có thể được:

- Các thành viên có thể chỉ định một hay nhiều người quản lý, nếu trong điều lệ không quy định thì tất cả các thành viên đều là người quản lý (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 – 3, khoản 1);

- Người quản lý có thể là thành viên hay môt người thứ ba;

- Tên của người quản lý có thể được ghi trong điều lệ hoặc không;

- Người quản lý có thể là một thể nhân hay một pháp nhân. Trong trường hợp người quản lý là một pháp nhân, người lãnh đạo pháp nhân quản lý có những nghĩa vụ và trách nhiệm hình sự và dân sự như khi anh ta là người quản lý nhân danh chính mình;

- Người quản lý có thể là người Pháp hay người nước ngoài. Và trong cả hai trường hợp trên, người quản lý phải có thẻ thương nhân nếu công ty hành nghề một hoạt động chuyên nghiệp (professionel).

Cũng như tất cả các công ty khác, việc chỉ định hay chấm dứt chức vụ của người quản lý phải được thông báo đến Phòng đăng ký thương mại và doanh nghiệp.

Phương thức bãi nhiệm người quản lý thông thường do điều lệ quy định. Trong trường hợp điều lệ không quy định, Điều L.221 – 12 của Bộ luật Thương mại sẽ được áp dụng:

- Nếu tất cả thành viên là người quản lý, việc bãi nhiệm một người quản lý phải được quy định trên cơ

sở nhất trí của tất cả các thành viên khác. Điều đó kéo theo sự giải thể công ty, trừ khi điều lệ công ty hay các thành viên quy định khác (theo sự nhất trí). Người quản lý bị bãi nhiệm có thể quyết định rút khỏi công ty và yêu cầu bồi hoàn phần đóng góp của mình;

- Nếu việc quản lý được giao cho một hay nhiều thành viên được chỉ định trong điều lệ, qui tắc bãi nhiệm trên đây cũng được áp dụng;

- Nếu người quản lý là một thành viên không được chỉ định trong điều lệ, anh ta sẽ bị bãi nhiệm theo điều kiện được điều lệ quy định và điều này không kéo theo việc giải thể công ty. Trong trường hợp điều lệ không quy định, quyết định sẽ được thông qua trên cơ sở sự nhất trí của các thành viên khác;

- Nếu người quản lý không phải là thành viên, người này sẽ bị bãi nhiệm theo điều kiện do điều lệ công ty quy định. Nếu điều lệ công ty không quy định, thì sẽ quyết định theo đa số của các thành viên.

Người quản lý cũng có thể bị bãi nhiệm bởi Tòa án, theo yêu cầu của các thành viên, vì lý do chính đáng.

5.3.2 Quyền hạn của người quản lý

Trong quan hệ giữa các thành viên, nếu như trong điều lệ không có những quy định cụ thể về quyền hạn, người quản lý có thể thực hiện tất cả các hành vi quản lý trong lợi ích của công ty (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 – 4). Trong quan hệ với người thứ ba, người quản lý sẽ không làm ràng buộc trách nhiệm của công ty nếu như những hành vi của anh ta không nằm trong ngành nghề của công ty. Nếu như có nhiều người quản lý thì mỗi người đều ràng buộc trách nhiệm công ty tương tự nhau. Do vậy, để tránh nhầm lẫn, khi ký kết hợp đồng với công ty, người ta cần phải xác minh tư cách của người quản lý và cả phạm vi ngành nghề của công ty.

5.3.3 Trách nhiệm của người quản lý

Trong trường hợp người quản lý vi phạm pháp luật, vi phạm điều lệ hay có sự sai sót trong quản lý, anh ta phải chịu trách nhiệm dân sự đối với công ty như người thứ ba. Về trách nhiệm hình sự, những tội đặc trưng về việc lạm dụng tài sản của công ty hay khai báo không trung thực về tài chính của công ty chỉ được viện dẫn trong các công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Người quản lý công ty hợp danh chỉ chịu trách nhiệm hình sự theo luật chung.

5.4 Thành viên công ty hợp danh

Điều nổi bật trước tiên của thành viên công ty hợp danh là trách nhiệm vô hạn và liên đới của họ. Về tính chất của trách nhiệm này tương tự như các thành viên hợp danh trong công ty hợp danh của Việt Nam. Tuy nhiên, pháp luật Pháp quy định rõ ràng hơn trong vấn đề thực thi trách nhiệm này. Khi công ty có một món nợ, hiển nhiên là chủ nợ phải yêu cầu công ty thanh toán trước tiên; nhưng nếu điều này không thành công, chủ nợ sẽ yêu cầu các thành viên (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 – 1). Sau 8 ngày kể từ ngày chủ nợ gửi yêu cầu yêu cầu công ty thanh toán nợ mà công ty vẫn chưa thanh toán, chủ nợ có thể yêu cầu các thành viên thanh toán. Tính liên đới của trách nhiệm cho phép chủ nợ có thể yêu cầu bất kỳ thành viên nào của công ty thanh toán toàn bộ số nợ cho mình. Người “được lựa chọn” chỉ có thể phải thực hiện, không thể yêu cầu chủ nợ phải yêu cầu công ty cũng như không thể đòi chủ nợ chia yêu cầu đến tất cả các thành viên. Hơn nữa, khác với trong công ty dân sự, sự phá sản hay thanh lý tư pháp công ty dẫn đến sự phá sản hay thanh lý thành viên công ty (Bộ luật Thương mại, Điều 624 – 1).

Sau đó, người mà đã trả tất cả khoản nợ có thể quay lại yêu cầu công ty thanh toán lại, anh ta cũng có thể yêu cầu đến các đồng thành viên trong công ty và trong trường hợp này, các đồng thành viên khác phải hoàn lại số nợ cho người đã thanh toán theo tỷ lệ được quy định trong điều lệ công ty hoặc, nếu trong điều lệ công ty không quy định, theo tỷ lệ phần đóng góp vào vốn điều lệ (Bộ luật Dân sự, Điều 1844, khoản 1).

Về chế độ chuuyển nhượng phần vốn góp, phần vốn góp không thể chuyển nhượng được như cổ phần (Bộ luật Thương mại, Điều L.221 – 13). Việc chuyển nhượng sẽ tuân theo những quy định của điều lệ công ty như đối với công ty trách nhiệm hữu hạn.

5.5 Kiểm toán viên

Việc chỉ định kiểm toán viên nội bộ chỉ bắt buộc nếu công ty vượt qua những mức sàn quy định. Và ngay cả trong trường hợp những mức sàn này không đạt được, các thành viên vẫn có thể bổ nhiệm một hoặc nhiều kiểm toán viên để kiểm soát hoạt động tài chính công ty.

6. CÔNG TY HỢP VỐN ĐƠN GIẢN (Société en commandite simple)

Công ty hợp vốn đơn giản có nhiều khía cạnh tương tự như công ty hợp vốn cổ phần, nhưng nó có điểm khác biệt cơ bản với công ty này là ở chỗ vốn của nó không được đại diện bởi những chứng khoán có thể chuyển nhượng. Công ty hợp vốn đơn giản có thời thịnh hành dưới Chế độ cũ của Pháp2, nó cho phép một thương nhân có ý tưởng kinh doanh nhưng không có vốn được tận dụng phần vốn góp của thành viên góp vốn – người nắm giữ vốn nhưng không thể tự tiến hành các hoạt động thương mại do quy chế của mình, như quý tộc, tăng lữ, thẩm phán... Dưới sự lấn át của công ty cố phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp vốn đã trở nên lỗi thời.

Thông thường, những công ty này được ra đời trên cơ sở chuyển đổi từ công ty hợp danh để có thể kết nạp người thừa kế của thành viên hợp danh đã chết làm thành viên hợp vốn do thừa kế này chưa thành niên (nên không có tư cách thương nhân và do vậy không thể là thành viên hợp danh.

Công ty hợp vốn đơn giản, giống như công ty hợp vốn cổ phần, là một công ty bất bình đẳng, cho phép hợp tác giữa những nhà kinh doanh (thành viên hợp danh) và nhà đầu tư (thành viên hợp vốn).

Thành viên hợp danh (có thể chỉ có 1 thành viên hợp danh duy nhất trong công ty), có địa vị pháp lý trương tự như thành viên hợp danh của công ty hợp danh. Họ phải có tư cách thương nhân, có quyền rất lớn trong việc quản lý công ty và phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới đối với mọi khoản nợ của công ty. Ngược lại, thành viên góp vốn có một vị trí thứ hai trong công ty bởi lẽ họ gánh chịu ít rủi ro hơn. Họ không phải có tư cách thương nhân và trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong phạm vi vốn góp của mình. Và khác với trong công ty hợp vốn cổ phần, thành viên hợp vốn không phải là cổ đông côngty.

Như vậy, có thể nói, công ty hợp vốn đơn giản có bản chất giống như công ty hợp danh mà trong đó có thành viên góp vốn theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 của Việt Nam.

CÁC BẠN ĐỌC PHẦN 1 BÀI THEO LINK SAU: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/02/19/cc-loẠi-hnh-doanh-nghiỆp-phỔ-biẾn-Ở-php/

Chú thích:

1 Giả định này không phải chỉ nằm trên lý thuyết: Ví dụ, như bản án của Tòa phúc thẩm Renné, ngày 08/01/1992.

2 Chế độ cũ (Ancien Régime): từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, chỉ giai đoạn từ lúc phục hồi quyền lực hoàng gia dười thời Louis XI (1461-1483) và Cách mạng Pháp (1789-1799). Xem thêm: http://www.hku.hk/french/dcmScreen/lang2044/histoire_ancienregime.htm

SOURCE: TẠP CHÍ KHOA HỌC PHÁP LÝ SỐ 5/2006